Với dự án thuộc diện bảo đảm thực hiện dự án, nhà đầu tư đứng trước hai lựa chọn: nộp tiền ký quỹ thật vào tài khoản phong tỏa, hoặc dùng bảo lãnh ngân hàng về nghĩa vụ ký quỹ để thay thế. Lựa chọn thứ hai giữ lại được dòng tiền mặt cho giai đoạn xây dựng, nhưng không phải chứng thư bảo lãnh nào xuất trình cũng được cơ quan đăng ký đầu tư chấp nhận. Hiểu đúng điều kiện chấp nhận bảo lãnh giúp nhà đầu tư đàm phán với ngân hàng đúng hướng ngay từ đầu.
Bài viết này phân tích cơ chế bảo lãnh ngân hàng thay thế ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án theo khung Luật Đầu tư 2025: căn cứ chấp nhận, các điều kiện một chứng thư bảo lãnh phải đáp ứng, câu hỏi về bảo lãnh do ngân hàng nước ngoài phát hành, và cách nhìn thực tế về chi phí bảo lãnh.
Căn cứ pháp lý: bảo lãnh là một hình thức bảo đảm được luật thừa nhận
Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 quy định nghĩa vụ bảo đảm thực hiện dự án có thể được thực hiện bằng một trong hai hình thức: nhà đầu tư ký quỹ, hoặc có bảo lãnh ngân hàng về nghĩa vụ ký quỹ. Nghị định số 96/2026/NĐ-CP điều chỉnh việc thực hiện nghĩa vụ này trong thỏa thuận bảo đảm thực hiện dự án giữa nhà đầu tư và cơ quan đăng ký đầu tư, bao gồm cách thức nộp chứng thư bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh tương ứng với tiến độ dự án và cơ chế xử lý khi nghĩa vụ ký quỹ bị gọi thực hiện.
Ở phía ngân hàng, việc phát hành bảo lãnh là nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng, thực hiện theo pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng và thỏa thuận giữa ngân hàng với nhà đầu tư. Như vậy, một chứng thư bảo lãnh hợp lệ cho mục đích ký quỹ phải thỏa mãn đồng thời hai hệ điều kiện: yêu cầu của pháp luật đầu tư về nghĩa vụ bảo đảm (đúng số tiền, đúng thời hạn, đúng bên thụ hưởng và điều kiện thanh toán) và yêu cầu của ngân hàng phát hành về hồ sơ tín dụng của chính nhà đầu tư.
Điều kiện để bảo lãnh ngân hàng được chấp nhận thay ký quỹ
Điều kiện 1: Số tiền bảo lãnh khớp nghĩa vụ ký quỹ
Chứng thư bảo lãnh phải bảo lãnh đúng toàn bộ số tiền mà nhà đầu tư phải ký quỹ theo thỏa thuận bảo đảm thực hiện dự án. Bảo lãnh thiếu một phần hoặc ghi số tiền thấp hơn nghĩa vụ sẽ không được chấp nhận như hình thức thay thế đầy đủ. Khi dự án gồm nhiều giai đoạn và nghĩa vụ bảo đảm xác định theo từng giai đoạn, cấu trúc bảo lãnh cần được thỏa thuận rõ để giá trị bảo lãnh luôn tương ứng với nghĩa vụ còn hiệu lực ở từng thời điểm.
Điều kiện 2: Thời hạn bảo lãnh bao phủ tiến độ dự án
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh phải bao phủ khoảng thời gian nghĩa vụ ký quỹ tồn tại theo thỏa thuận bảo đảm, gắn với tiến độ triển khai dự án. Bảo lãnh hết hạn trước khi dự án đạt mốc hoàn trả tương ứng sẽ tạo khoảng trống bảo đảm và buộc nhà đầu tư phải gia hạn hoặc thay thế kịp thời. Nhà đầu tư cần theo dõi hạn bảo lãnh như một mốc tuân thủ độc lập, kể cả khi dự án điều chỉnh tiến độ.
Điều kiện 3: Ngân hàng phát hành và nội dung chứng thư
Chứng thư bảo lãnh do tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp phát hành, với nội dung xác định rõ nghĩa vụ của ngân hàng: khi nhà đầu tư thuộc trường hợp bị xử lý nghĩa vụ ký quỹ theo quy định, ngân hàng có trách nhiệm nộp số tiền tương ứng vào ngân sách theo yêu cầu hợp lệ. Các điều kiện thanh toán ghi trong chứng thư phải tương thích với cơ chế xử lý trong thỏa thuận bảo đảm; một chứng thư đặt điều kiện thanh toán quá khác biệt có thể bị cơ quan đăng ký đầu tư yêu cầu điều chỉnh.
Điều kiện 4: Nộp và xác nhận trong hồ sơ dự án
Chứng thư bảo lãnh được nộp cho cơ quan đăng ký đầu tư theo thỏa thuận bảo đảm và lưu trong hồ sơ dự án như bằng chứng đã thực hiện nghĩa vụ. Mọi thay đổi về bảo lãnh — gia hạn, giảm giá trị theo mốc hoàn trả, thay ngân hàng phát hành — đều cần được thông báo và cập nhật để hồ sơ bảo đảm của dự án luôn khớp với thực tế, tránh tình trạng trên giấy tờ dự án đang có bảo lãnh còn hiệu lực trong khi bảo lãnh thật đã hết hạn.
| Tiêu chí | Ký quỹ bằng tiền | Bảo lãnh ngân hàng |
|---|---|---|
| Được luật thừa nhận | Có | Có, là hình thức thay thế hợp lệ |
| Điều kiện cốt lõi | Nộp đủ tiền vào tài khoản ký quỹ | Chứng thư đúng số tiền, thời hạn, nội dung theo thỏa thuận bảo đảm |
| Chi phí trực tiếp | Chi phí cơ hội của tiền bị khóa | Phí bảo lãnh theo biểu phí ngân hàng và điều kiện tín dụng |
Rủi ro khi dùng bảo lãnh thay ký quỹ
Mang chứng thư bảo lãnh mẫu của ngân hàng đi nộp nguyên trạng
Mẫu bảo lãnh thương mại thông thường của ngân hàng có thể chứa điều kiện thanh toán, thời hạn hoặc cách diễn đạt không tương thích với cơ chế xử lý nghĩa vụ ký quỹ trong thỏa thuận bảo đảm. Cách làm đúng là lấy yêu cầu từ thỏa thuận bảo đảm và hướng dẫn của cơ quan đăng ký đầu tư trước, rồi đàm phán nội dung chứng thư với ngân hàng theo các yêu cầu đó, thay vì chiều ngược lại.
Quên gia hạn khi dự án điều chỉnh tiến độ
Khi tiến độ dự án được điều chỉnh dài hơn, nghĩa vụ bảo đảm tồn tại lâu hơn trong khi thời hạn bảo lãnh ban đầu không tự kéo dài theo. Nếu bảo lãnh hết hiệu lực giữa chừng, dự án rơi vào trạng thái chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo đảm. Mọi quyết định điều chỉnh tiến độ cần đi kèm hành động kiểm tra và gia hạn bảo lãnh tương ứng.
Đánh giá chi phí bảo lãnh chỉ bằng phí phát hành
Chi phí thật của bảo lãnh còn gồm điều kiện tín dụng đi kèm như tài sản bảo đảm, ký quỹ một phần tại ngân hàng hoặc hạn mức bị chiếm dụng, tùy chính sách của từng ngân hàng và hồ sơ tín dụng của nhà đầu tư. So sánh hai phương án tiền và bảo lãnh phải tính trên tổng chi phí và tác động hạn mức, với số liệu từ báo giá thực tế của ngân hàng, thay vì một con số phí ước lượng.
Bảo lãnh ngân hàng dùng để thay thế ký quỹ luôn có một kỳ hạn xác định, và kỳ hạn đó không tự kéo dài theo tiến độ thủ tục của dự án. Nếu hồ sơ bị yêu cầu bổ sung nhiều vòng đến mức bảo lãnh sắp hết hiệu lực, nhà đầu tư lại phát sinh thêm một vòng làm việc với ngân hàng để gia hạn, kèm theo phí và khâu thẩm định lại. Khi chọn kỳ hạn bảo lãnh, nên cộng thêm một khoảng dự phòng cho thời gian xử lý hồ sơ và các thủ tục liên quan, thay vì đặt kỳ hạn vừa khít với mốc dự kiến được cấp giấy chứng nhận.
Bảo lãnh thay thế ký quỹ là phương án chỉ đứng vững khi cả cơ quan đăng ký lẫn ngân hàng phát hành cùng chấp nhận tại thời điểm thực hiện, theo đúng điều kiện của văn bản đang có hiệu lực. Điều kiện và mẫu biểu phía ngân hàng cũng không cố định qua thời gian: mỗi ngân hàng có yêu cầu riêng về hồ sơ tài chính và tài sản bảo đảm khi phát hành bảo lãnh. Trước khi chọn phương án bảo lãnh, nhà đầu tư cần kiểm tra đồng thời điều kiện pháp lý hiện hành về ký quỹ và yêu cầu cụ thể của ngân hàng dự định phát hành, để tránh trường hợp bảo lãnh đã phát hành xong nhưng cơ quan lại không chấp nhận.
Tóm lại, bảo lãnh ngân hàng là hình thức thay thế ký quỹ được Luật Đầu tư 2025 thừa nhận chính thức, với điều kiện chứng thư bảo lãnh khớp toàn bộ nghĩa vụ ký quỹ về số tiền, bao phủ thời hạn theo tiến độ dự án và có nội dung thanh toán tương thích với thỏa thuận bảo đảm. Nhà đầu tư nên bắt đầu từ yêu cầu của thỏa thuận bảo đảm, đàm phán chứng thư với ngân hàng theo các yêu cầu đó và quản trị thời hạn bảo lãnh như một nghĩa vụ tuân thủ riêng. Làm đúng, bảo lãnh giúp dự án giữ được dòng tiền mặt mà vẫn bảo đảm nghĩa vụ với Nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
Dùng bảo lãnh ngân hàng thay tiền ký quỹ có được chấp nhận không?
Được chấp nhận. Luật Đầu tư 143/2025/QH15 thừa nhận hai hình thức thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thực hiện dự án: ký quỹ bằng tiền hoặc có bảo lãnh ngân hàng về nghĩa vụ ký quỹ. Điều kiện là chứng thư bảo lãnh phải bảo lãnh đúng số tiền phải ký quỹ theo thỏa thuận bảo đảm, có thời hạn bao phủ tiến độ dự án và nội dung phù hợp cơ chế xử lý nghĩa vụ, đồng thời được nộp vào hồ sơ dự án tại cơ quan đăng ký đầu tư.
Bảo lãnh ngân hàng phải đáp ứng điều kiện gì?
Ba nhóm điều kiện chính: số tiền bảo lãnh bằng toàn bộ nghĩa vụ ký quỹ theo thỏa thuận bảo đảm thực hiện dự án; thời hạn hiệu lực bao phủ khoảng thời gian nghĩa vụ tồn tại theo tiến độ dự án và được gia hạn khi tiến độ điều chỉnh; và nội dung chứng thư do tổ chức tín dụng hợp pháp phát hành, xác định trách nhiệm nộp tiền của ngân hàng khi nhà đầu tư thuộc trường hợp bị xử lý nghĩa vụ ký quỹ. Chứng thư không khớp thỏa thuận bảo đảm có thể bị yêu cầu sửa trước khi được chấp nhận.
Ngân hàng nước ngoài bảo lãnh có được không?
Hồ sơ bảo đảm nộp cho cơ quan đăng ký đầu tư cần một chứng thư bảo lãnh có thể thực thi trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, do tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp phát hành. Bảo lãnh do ngân hàng nước ngoài ngoài Việt Nam phát hành thường không đáp ứng trực tiếp yêu cầu này về bên phát hành và cơ chế thanh toán tại Việt Nam; trong thực tế, nhà đầu tư thường làm việc với ngân hàng tại Việt Nam hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam để phát hành chứng thư phù hợp. Hãy xác nhận với cơ quan đăng ký đầu tư và ngân hàng dự kiến trước khi cam kết phương án.
Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng
