FLAT LAW FIRM

Pháp lý doanh nghiệp

Bị tố ‘quân xanh quân đỏ’ trong đấu thầu: ứng phó

Đơn tố cáo thường đến rất nhanh sau khi mở thầu: đối thủ thua thầu khẳng định hai hồ sơ dự thầu trong gói là “quân xanh quân đỏ” — một nhà thầu thật và một nhà thầu dựng lên để dự thầu chiếu lệ. Với nhà thầu bị tố, phản ứng trong những ngày đầu quyết định gần như toàn bộ kết cục, vì thông thầu là hành vi bị cấm nặng nhất trong Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15, và ranh giới giữa “bị nghi ngờ oan” với “bị chứng minh có thỏa thuận” nằm ở chứng cứ, không nằm ở lời khẳng định.

Pháp luật gọi hành vi này là gì và cấu thành ra sao

Khoản 3 Điều 16 Luật Đấu thầu năm 2023 định nghĩa thông thầu qua ba hành vi. Điểm a là dàn xếp, thỏa thuận, ép buộc để một hoặc các bên chuẩn bị hồ sơ dự thầu hoặc rút hồ sơ dự thầu nhằm để một bên trúng thầu. Điểm b là dàn xếp, thỏa thuận để từ chối cung cấp hàng hóa, dịch vụ, không ký hợp đồng thầu phụ hoặc dùng hình thức thỏa thuận khác nhằm hạn chế cạnh tranh để một bên trúng thầu. Điểm c là nhà thầu có năng lực, kinh nghiệm, đã dự thầu và đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng cố ý không cung cấp tài liệu chứng minh năng lực, kinh nghiệm khi được yêu cầu làm rõ hoặc đối chiếu, nhằm tạo điều kiện cho một bên trúng thầu. Yếu tố cấu thành cốt lõi trong cả ba điểm là sự thỏa thuận hoặc dàn xếp; hai nhà thầu tình cờ có giá chào gần nhau, cùng mua vật tư từ một nhà phân phối, hay cùng thuê một đơn vị tư vấn lập dự toán không tự nó cấu thành thông thầu.

Thực tế điều tra cho thấy cơ quan xử lý thường bắt đầu từ dấu hiệu bề mặt: hai hồ sơ có cùng lỗi chính tả hiếm gặp, cùng địa chỉ IP hoặc cùng máy tính nộp hồ sơ trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, bảo lãnh dự thầu do cùng một ngân hàng phát hành liên tiếp số seri, giá chào của “quân đỏ” cao hơn theo một tỷ lệ đều đặn, hoặc nhân sự hai bên từng qua lại. Các dấu hiệu này chỉ là điểm khởi đầu; chúng có giá trị tố cáo nhưng chưa phải bằng chứng thỏa thuận. Nhiệm vụ của nhà thầu bị tố là tách hai lớp này ra trong mọi văn bản giải trình: thừa nhận những gì có thật và giải thích được bằng quan hệ kinh doanh thông thường, đồng thời yêu cầu bên tố cáo và cơ quan xử lý chỉ rõ bằng chứng của yếu tố thỏa thuận.

Hậu quả pháp lý theo từng tầng

Tầng thứ nhất nằm trong chính gói thầu: theo điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 17 Luật Đấu thầu năm 2023, nhà thầu trúng thầu thực hiện hành vi bị cấm, hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện hành vi bị cấm dẫn đến sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu, đều là căn cứ hủy thầu. Tầng thứ hai là cấm tham gia hoạt động đấu thầu theo Điều 125 Nghị định 24/2024/ND-CP: vi phạm điểm a khoản 3 Điều 16 bị cấm từ 03 năm đến 05 năm; vi phạm điểm b hoặc điểm c khoản 3 bị cấm từ 01 năm đến 03 năm; thời hiệu áp dụng biện pháp cấm là 10 năm kể từ ngày xảy ra hành vi. Với nhà thầu liên danh, quyết định cấm mặc định áp dụng cho mọi thành viên, trừ các trường hợp luật định chỉ cấm riêng thành viên vi phạm. Tầng thứ ba là hình sự: hành vi thông thầu gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu theo Điều 222 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Ba tầng này chạy độc lập; thoát ở tầng kiến nghị trong gói thầu không tự động xóa rủi ro ở hai tầng còn lại.

Lộ trình ứng phó thực tế trong 30 ngày đầu

Bước một là đóng băng chứng cứ theo hướng có lợi cho mình: lưu trữ toàn bộ quá trình lập hồ sơ dự thầu — file gốc kèm metadata, lịch sử định giá nội bộ, báo giá của nhà cung cấp, email trao đổi — và tuyệt đối không sửa, không xóa bất kỳ tài liệu nào, vì hành vi hủy hoại, che giấu chứng cứ tự nó là hành vi cản trở bị cấm tại khoản 5 Điều 16. Bước hai là giải trình bằng văn bản với chủ đầu tư và bên mời thầu, tập trung vào quy trình định giá độc lập của công ty: ai lập giá, dựa trên báo giá nào, vì sao các điểm trùng hợp kỹ thuật với hồ sơ đối thủ là hệ quả của việc dùng chung mẫu hồ sơ mời thầu điện tử hoặc chung nhà cung cấp. Bước ba, nếu có quyết định bất lợi trong quá trình lựa chọn nhà thầu, dùng cơ chế kiến nghị tại các Điều 89, 90 và 91 Luật Đấu thầu năm 2023, đồng thời chuẩn bị khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính đối với quyết định cấm thầu nếu quyết định đó được ban hành.

Bước bốn là kiểm soát truyền thông nội bộ và đối ngoại: chỉ một đầu mối phát ngôn, không liên lạc với nhà thầu bị nghi là “quân xanh” để “thống nhất lời khai” — hành động đó tự nó tạo ra đúng bằng chứng thỏa thuận mà đối phương đang tìm. Nếu dấu hiệu điều tra hình sự xuất hiện (mời làm việc về Điều 222 Bộ luật Hình sự), nhà thầu cần luật sư hình sự tham gia ngay từ buổi làm việc đầu tiên, tách hẳn với đội xử lý kiến nghị đấu thầu.

Câu hỏi thường gặp

Bị tố quân xanh quân đỏ thì dựa vào đâu để chứng minh thông thầu?

Căn cứ pháp lý là khoản 3 Điều 16 Luật Đấu thầu năm 2023, với yếu tố bắt buộc phải chứng minh là sự dàn xếp, thỏa thuận. Các dấu hiệu bề mặt như cùng địa chỉ IP nộp hồ sơ, cùng lỗi chính tả, bảo lãnh cùng ngân hàng chỉ là căn cứ để kiểm tra; kết luận thông thầu cần thêm chứng cứ về liên lạc, thỏa thuận chia việc hoặc dòng tiền giữa các nhà thầu.

Thông thầu bị cấm thầu bao lâu?

Theo Điều 125 Nghị định 24/2024/ND-CP: dàn xếp chuẩn bị hoặc rút hồ sơ dự thầu theo điểm a khoản 3 Điều 16 bị cấm từ 03 năm đến 05 năm; các hành vi tại điểm b, điểm c khoản 3 bị cấm từ 01 năm đến 03 năm. Thời hiệu áp dụng là 10 năm kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm.

Thông thầu có bị xử lý hình sự không?

Có thể. Điều 222 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, trong đó thông thầu là một trong các hành vi bị liệt kê. Việc truy cứu phụ thuộc vào mức hậu quả và chứng cứ thỏa thuận; chỉ bị tố cáo hoặc bị hủy thầu không đồng nghĩa với bị truy cứu hình sự.

Bị tố oan thì khiếu nại ở đâu trước?

Trước hết là giải trình và kiến nghị trong chính quy trình lựa chọn nhà thầu theo các Điều 89 đến 91 Luật Đấu thầu năm 2023, gửi chủ đầu tư, bên mời thầu và người có thẩm quyền. Nếu sau đó bị ban hành quyết định cấm tham gia đấu thầu, nhà thầu khiếu nại quyết định đó theo Luật Khiếu nại năm 2011 hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án.

Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng