FLAT LAW FIRM

Pháp lý doanh nghiệp

Bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam

Business people shaking hands in office

Sở hữu 3% cổ phần trong một công ty cổ phần không niêm yết thường đồng nghĩa với việc nhận thông báo họp đại hội như một thủ tục hình thức: cổ đông đa số đã chốt phương án từ trước, biên bản chỉ ghi lại kết quả đã định. Nhưng khung pháp luật Việt Nam không để cổ đông thiểu số trắng tay như vậy. Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14 dành một hệ thống quyền riêng cho cổ đông và nhóm cổ đông nắm tỷ lệ nhỏ, gồm quyền thông tin, quyền đề cử nhân sự, quyền yêu cầu triệu tập đại hội, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần trong tình huống bị ép, và quyền khởi kiện người quản lý khi họ gây thiệt hại cho công ty. Vấn đề thực tế là phần lớn cổ đông thiểu số không biết ngưỡng tỷ lệ gắn với từng quyền, nên bỏ lỡ thời điểm quyền đó có giá trị nhất.

Quyền của mọi cổ đông phổ thông, không phụ thuộc tỷ lệ nắm giữ

Điều 114 của Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14 trao cho mọi cổ đông phổ thông một chùm quyền nền tảng: tham dự và biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông với số phiếu tương ứng số cổ phần; nhận cổ tức theo quyết định của đại hội; ưu tiên mua cổ phần mới chào bán theo tỷ lệ hiện hữu; tự do chuyển nhượng cổ phần trừ các hạn chế luật định trong ba năm đầu đối với cổ đông sáng lập; và xem xét, tra cứu, trích lục thông tin về cổ đông có quyền biểu quyết, biên bản họp và nghị quyết của đại hội đồng cổ đông. Cổ đông còn được đối xử bình đẳng theo loại cổ phần và được bảo vệ thông tin cá nhân trong sổ đăng ký cổ đông. Đây là tầng quyền không cần bất kỳ ngưỡng nào, và nó là nền để cổ đông thiểu số thu thập chứng cứ trước khi dùng đến các quyền mạnh hơn ở các Điều 115, 132 và 166.

Điểm yếu cố hữu của tầng quyền này nằm ở thực thi thông tin: công ty phải cung cấp điều lệ và biên bản họp khi cổ đông yêu cầu, nhưng báo cáo tài chính chi tiết, hợp đồng với bên liên quan và sổ sách kế toán không nằm trong danh mục tra cứu mặc định của cổ đông đơn lẻ. Vì vậy, trong các tranh chấp thực tế, cổ đông thiểu số thường phải đi qua cửa của Ban kiểm soát hoặc gom đủ ngưỡng lập nhóm để mở khóa quyền xem xét, trích lục sổ biên bản của hội đồng quản trị và tài liệu giao dịch theo Điều 115. Điều lệ công ty có thể quy định ngưỡng thấp hơn ngưỡng luật định để kích hoạt quyền của nhóm cổ đông, và khi mua cổ phần vào một công ty chưa niêm yết, đây là một trong những điều khoản đáng thương lượng nhất nhưng lại hay bị bỏ qua nhất trong hợp đồng góp vốn.

Ngưỡng 5%: chìa khóa của nhóm quyền giám sát và đề cử

Điều 115 của Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên, hoặc tỷ lệ nhỏ hơn do điều lệ quy định, được hưởng bốn nhóm quyền đặc biệt. Thứ nhất, đề cử người vào hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Thứ hai, xem xét và trích lục sổ biên bản, nghị quyết của hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm cùng báo cáo của Ban kiểm soát. Thứ ba, yêu cầu triệu tập họp đại hội đồng cổ đông khi hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, vượt thẩm quyền hoặc quyết định vấn đề không thuộc thẩm quyền. Thứ tư, yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành công ty. Ngưỡng 5% hiện hành đã giảm một nửa so với ngưỡng 10% của Luật Doanh nghiệp 2014, và nhóm cổ đông có thể tập hợp từ nhiều cổ đông nhỏ để đạt ngưỡng, kèm danh sách và thông tin từng thành viên theo mẫu luật định khi thực hiện quyền.

Với quyền đề cử, cơ chế bầu dồn phiếu tại đại hội là mảnh ghép quyết định: mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết bằng số cổ phần nhân với số thành viên hội đồng quản trị được bầu, và được dồn toàn bộ phiếu cho một ứng viên. Nhờ bầu dồn phiếu, một nhóm cổ đông quanh ngưỡng 10 đến 15% hoàn toàn có thể đưa được một người của mình vào hội đồng quản trị nếu biết tập trung phiếu thay vì rải đều cho nhiều ứng viên. Ghế trong hội đồng quản trị đó giá trị hơn nhiều so với tỷ lệ cổ phần, vì thành viên hội đồng được tiếp cận hồ sơ gốc, được ghi ý kiến phản đối vào biên bản, và chính những biên bản này là chứng cứ cốt lõi nếu về sau nhóm cổ đông khởi kiện theo Điều 166.

Yêu cầu công ty mua lại cổ phần: lối thoát giá công bằng khi bị ép thay đổi quyền

Điều 132 của Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14 cho cổ đông đã biểu quyết phản đối nghị quyết của đại hội đồng cổ đông về hai vấn đề, tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền và nghĩa vụ của cổ đông quy định tại điều lệ, quyền yêu cầu công ty mua lại toàn bộ hoặc một phần cổ phần của mình. Yêu cầu phải gửi bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày đại hội thông qua nghị quyết, nêu rõ số lượng và giá dự định bán. Công ty phải mua lại trong 90 ngày kể từ khi nhận yêu cầu, theo giá thị trường hoặc giá được xác định theo nguyên tắc ghi trong điều lệ; nếu hai bên không thỏa thuận được giá, các bên có thể thuê tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp, và trong trường hợp công ty không thanh toán được do ràng buộc về khả năng chi trả thì cổ đông có thể bán cho người khác. Cơ chế này là van an toàn chống lại tình trạng cổ đông đa số dùng nghị quyết đại hội để viết lại luật chơi theo hướng bất lợi cho nhóm nhỏ, vì nó biến quyền phản đối thành một quyền rút vốn có định giá.

Khởi kiện người quản lý: quyền của nhóm 1% và cơ chế chi phí

Điều 166 của Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14 trao cho cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong 06 tháng quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên hội đồng quản trị và giám đốc hoặc tổng giám đốc. Các căn cứ khởi kiện gồm vi phạm nghĩa vụ của người quản lý, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyết định của hội đồng quản trị, thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao trái quy định, điều lệ hoặc nghị quyết đại hội, sử dụng thông tin, bí quyết và cơ hội kinh doanh của công ty để tư lợi, hoặc lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản công ty. Trước khi kiện, cổ đông phải gửi yêu cầu đến Ban kiểm soát; Ban kiểm soát có 15 ngày để xử lý, quá thời hạn đó hoặc khi Ban kiểm soát không khởi kiện theo yêu cầu, cổ đông mới bước ra tòa thay mặt công ty. Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông kiện nhân danh công ty được tính vào chi phí của công ty, trừ khi yêu cầu khởi kiện bị tòa bác bỏ.

Cần phân biệt rạch ròi hai loại vụ kiện mà cổ đông thiểu số thường nhầm lẫn. Kiện theo Điều 166 là kiện phái sinh, nhân danh công ty, và khoản bồi thường nếu thắng sẽ về công ty chứ không về túi cổ đông khởi kiện, giá trị của nó nằm ở việc ép người quản lý hoàn trả tài sản và ngăn hành vi tiếp diễn. Ngược lại, khi chính quyền của cổ đông bị xâm phạm trực tiếp, chẳng hạn công ty từ chối trả cổ tức đã chốt, không cho tra cứu hồ sơ thuộc quyền đương nhiên hay gạt tên khỏi danh sách cổ đông, cổ đông kiện với tư cách cá nhân để bảo vệ quyền của chính mình. Xác định sai tư cách kiện ngay từ đơn khởi kiện là lỗi khiến nhiều vụ việc của cổ đông thiểu số bị trả lại hồ sơ, mất thời hiệu cho lỗi lầm của người quản lý trong khi phải làm lại từ đầu.

Câu hỏi thường gặp

Cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần có những quyền gì?

Ngoài quyền cơ bản của cổ đông phổ thông tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14 (biểu quyết, nhận cổ tức, ưu tiên mua cổ phần mới, tra cứu biên bản và nghị quyết đại hội), cổ đông thiểu số còn có quyền theo ngưỡng: nhóm từ 5% được đề cử nhân sự, trích lục tài liệu quản trị, yêu cầu triệu tập đại hội và yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra theo Điều 115; quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần khi phản đối nghị quyết tái tổ chức hoặc đổi quyền cổ đông theo Điều 132; và quyền khởi kiện người quản lý theo Điều 166 khi nắm từ 1% trong 06 tháng liên tục.

Cổ đông sở hữu bao nhiêu cổ phần thì được đề cử người vào hội đồng quản trị?

Theo Điều 115 Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên, hoặc tỷ lệ nhỏ hơn nếu điều lệ công ty quy định, được đề cử người vào hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Nhiều cổ đông nhỏ có thể gom cổ phần thành nhóm để đạt ngưỡng này, và nhờ cơ chế bầu dồn phiếu, nhóm cổ đông tập trung phiếu cho một ứng viên vẫn có cơ hội trúng cử dù tỷ lệ nắm giữ không cao.

Cổ đông thiểu số khởi kiện người quản lý công ty như thế nào?

Theo Điều 166 Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14, cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm ít nhất 1% cổ phần phổ thông liên tục 06 tháng gửi yêu cầu bằng văn bản đến Ban kiểm soát trước. Ban kiểm soát có 15 ngày xử lý; nếu quá hạn hoặc Ban kiểm soát không khởi kiện, cổ đông được tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc tại tòa án. Chi phí kiện nhân danh công ty được tính vào chi phí của công ty, trừ khi tòa bác yêu cầu khởi kiện.

Cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần trong trường hợp nào?

Theo Điều 132 Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14, cổ đông đã biểu quyết phản đối nghị quyết đại hội đồng cổ đông về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông trong điều lệ có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần. Yêu cầu phải gửi trong 10 ngày kể từ ngày thông qua nghị quyết; công ty phải mua lại trong 90 ngày theo giá thị trường hoặc nguyên tắc giá trong điều lệ, và nếu không thỏa thuận được giá thì thuê tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá.

Bài viết liên quan