FLAT LAW FIRM

Đầu tư nước ngoài

Nhượng quyền thương mại ra nước ngoài của thương hiệu Việt: thủ tục

Khi một thương hiệu Việt Nam nhượng quyền ra nước ngoài, câu hỏi thủ tục đầu tiên thường bị hỏi ngược: nhiều doanh nghiệp tưởng phải đăng ký hoạt động nhượng quyền tại Bộ Công Thương như chiều nhượng quyền vào Việt Nam, nhưng pháp luật đối xử hai chiều hoàn toàn khác nhau. Theo Điều 17a Nghị định 35/2006/NĐ-CP, nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài thuộc trường hợp không phải đăng ký, chỉ thực hiện chế độ báo cáo Sở Công Thương. Bài viết trình bày toàn bộ thủ tục của chiều ra: điều kiện tiên quyết về hệ thống kinh doanh, chế độ báo cáo thay cho đăng ký, cách bảo hộ thương hiệu tại thị trường đến và xử lý thuế đối với phí nhượng quyền thu từ nước ngoài.

Khung pháp lý: chiều ra khác hẳn chiều vào

Nhượng quyền thương mại được định nghĩa tại Luật Thương mại 2005 là hoạt động bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định, gắn với nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết và biểu tượng kinh doanh của bên nhượng quyền. Về quản lý nhà nước, Nghị định 35/2006/NĐ-CP đặt thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền đối với chiều nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam, trong đó bên nhượng quyền nước ngoài phải đăng ký tại Bộ Công Thương trước khi nhượng quyền. Nhưng Điều 17a của nghị định này, được bổ sung bởi Nghị định 120/2011/NĐ-CP, xác định hai trường hợp không phải đăng ký hoạt động nhượng quyền: nhượng quyền trong nước và nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài. Điều kiện còn lại đối với bên nhượng quyền sau các đợt cắt giảm điều kiện kinh doanh, gồm Nghị định 08/2018/NĐ-CP, là hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động ít nhất 01 năm. Phân biệt đúng chiều giao dịch ngay từ đầu giúp doanh nghiệp Việt tránh làm thừa một thủ tục đăng ký không thuộc diện áp dụng cho mình.

Thủ tục cụ thể: báo cáo Sở Công Thương thay cho đăng ký

Đối với nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài, doanh nghiệp không nộp hồ sơ đăng ký lên Bộ Công Thương mà thực hiện chế độ báo cáo đối với Sở Công Thương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở theo Điều 17a Nghị định 35/2006/NĐ-CP. Chế độ báo cáo là nghĩa vụ thông tin định kỳ và khi phát sinh hoạt động nhượng quyền theo biểu mẫu quản lý của ngành công thương, nhằm để cơ quan quản lý nắm hoạt động nhượng quyền của thương nhân Việt Nam ở nước ngoài, khác căn bản với đăng ký vốn là thủ tục thẩm định điều kiện trước khi được phép hoạt động. Hợp đồng nhượng quyền với đối tác nước ngoài phải lập thành văn bản và có các nội dung chủ yếu theo pháp luật thương mại: nội dung quyền thương mại, quyền và nghĩa vụ của hai bên, giá cả và phí nhượng quyền định kỳ, phương thức thanh toán, thời hạn, gia hạn, chấm dứt và giải quyết tranh chấp. Doanh nghiệp cũng phải chuẩn bị tài liệu giới thiệu về hệ thống nhượng quyền cho bên nhận quyền tiềm năng một cách trung thực, vì tranh chấp nhượng quyền quốc tế thường bắt nguồn từ thông tin hệ thống bị thổi phồng ở giai đoạn chào bán hơn là từ điều khoản hợp đồng.

Bảo hộ thương hiệu tại thị trường đến: việc phải làm trước khi ký

Quyền thương mại được nhượng đi chỉ có giá trị nếu thương hiệu được bảo hộ tại chính thị trường đến, vì quyền đối với nhãn hiệu có tính lãnh thổ. Doanh nghiệp Việt Nam có hai đường đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài: nộp đơn quốc tế theo hệ thống Madrid thông qua Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam và chỉ định các nước đến là thành viên Nghị định thư Madrid, hoặc nộp đơn trực tiếp tại cơ quan sở hữu trí tuệ của từng nước đến. Trình tự an toàn là nộp đơn bảo hộ tại nước đến trước hoặc đồng thời với đàm phán nhượng quyền, vì nhiều thị trường áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và một đối tác đàm phán thiếu thiện chí hoàn toàn có thể đăng ký chiếm nhãn hiệu tại nước họ. Hợp đồng nhượng quyền phải quy định rõ quyền sử dụng nhãn hiệu, tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền, nghĩa vụ không đăng ký nhãn hiệu tương tự của bên nhận quyền và việc chấm dứt quyền sử dụng khi hợp đồng kết thúc. Đây là nhóm điều khoản quyết định thương hiệu còn thuộc về doanh nghiệp Việt sau khi mối quan hệ nhượng quyền kết thúc hay không.

Thuế với phí nhượng quyền thu từ nước ngoài

Phí nhượng quyền ban đầu và phí định kỳ thu từ bên nhận quyền ở nước ngoài là doanh thu của thương nhân Việt Nam và chịu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định chung, kê khai cùng doanh thu của doanh nghiệp. Về thuế giá trị gia tăng, việc cung cấp quyền thương mại và dịch vụ hỗ trợ cho tổ chức nước ngoài có thể thuộc diện áp dụng thuế suất 0% nếu đáp ứng điều kiện của dịch vụ xuất khẩu — cốt lõi là dịch vụ được tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam, có hợp đồng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo quy định thuế; nếu không đủ điều kiện chứng minh, doanh nghiệp phải áp dụng thuế suất thông thường và đây là điểm cần thẩm định với từng cấu trúc hợp đồng cụ thể thay vì mặc định 0%. Ngược lại với chiều nhượng quyền vào Việt Nam — nơi phí trả cho bên nhượng quyền nước ngoài bị khấu trừ thuế nhà thầu — chiều ra không phát sinh thuế nhà thầu tại Việt Nam, nhưng bên nhận quyền ở nước đến có thể khấu trừ thuế tại nguồn theo luật nước họ, và doanh nghiệp Việt cần thỏa thuận rõ trong hợp đồng khoản khấu trừ này thuộc nghĩa vụ của bên nào cùng cơ chế chứng từ để khấu trừ vào thuế phải nộp nếu điều ước tránh đánh thuế hai lần có quy định liên quan. Dòng tiền phí nhượng quyền quốc tế phải đi qua tài khoản ngân hàng theo pháp luật quản lý ngoại hối.

Rủi ro và kỷ luật vận hành của nhượng quyền xuyên biên giới

Ba rủi ro định hình giao dịch nhượng quyền ra nước ngoài. Rủi ro thứ nhất là mất kiểm soát chất lượng tại thị trường xa: bên nhận quyền vận hành dưới chuẩn sẽ phá thương hiệu gốc tại thị trường đó trước khi bên nhượng quyền kịp phát hiện, nên hợp đồng phải có quyền kiểm tra, đào tạo bắt buộc và điều khoản chấm dứt khi vi phạm tiêu chuẩn cốt lõi. Rủi ro thứ hai là xung đột pháp luật nước đến: một số nước có luật nhượng quyền riêng với yêu cầu công bố thông tin và đăng ký tại nước đến — nghĩa vụ đó thuộc pháp luật nước sở tại và doanh nghiệp Việt phải rà soát trước khi ký, không thể suy ra từ việc Việt Nam không yêu cầu đăng ký. Rủi ro thứ ba là tranh chấp xuyên biên giới tốn kém: hợp đồng cần chốt luật áp dụng, cơ quan giải quyết tranh chấp — trọng tài quốc tế thường là lựa chọn thực tế — và ngôn ngữ hợp đồng ngay từ đầu. Doanh nghiệp giữ kỷ luật ở ba điểm này, cộng với báo cáo Sở Công Thương đúng chế độ và bảo hộ nhãn hiệu đi trước một bước, sẽ biến nhượng quyền ra nước ngoài từ một giao dịch may rủi thành một kênh mở rộng có kiểm soát.

Câu hỏi thường gặp

Thương hiệu Việt muốn nhượng quyền ra nước ngoài thì thủ tục thế nào?

Theo Điều 17a Nghị định 35/2006/NĐ-CP được bổ sung bởi Nghị định 120/2011/NĐ-CP, nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài KHÔNG phải đăng ký hoạt động nhượng quyền; doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo Sở Công Thương nơi đặt trụ sở. Điều kiện còn lại của bên nhượng quyền là hệ thống kinh doanh dự định nhượng quyền đã hoạt động ít nhất 01 năm sau các đợt cắt giảm điều kiện gồm Nghị định 08/2018/NĐ-CP. Hợp đồng nhượng quyền lập thành văn bản với các nội dung chủ yếu theo Luật Thương mại 2005 về quyền, nghĩa vụ, phí, thời hạn và giải quyết tranh chấp.

Có phải đăng ký ở Việt Nam không?

Không phải đăng ký tại Bộ Công Thương — thủ tục đăng ký chỉ áp dụng cho chiều nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam, trong đó bên nhượng quyền nước ngoài đăng ký tại Bộ Công Thương trước khi nhượng quyền. Chiều ra thuộc trường hợp không phải đăng ký tại Điều 17a Nghị định 35/2006/NĐ-CP và chỉ chịu chế độ báo cáo Sở Công Thương. Nhầm hai chiều khiến nhiều doanh nghiệp Việt làm thừa thủ tục không thuộc diện áp dụng cho mình.

Bảo hộ thương hiệu ở nước ngoài thế nào?

Bảo hộ đi theo hai đường: nộp đơn quốc tế qua hệ thống Madrid thông qua Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam và chỉ định nước đến là thành viên Nghị định thư Madrid, hoặc nộp đơn trực tiếp tại cơ quan sở hữu trí tuệ của nước đến. Nên nộp bảo hộ trước hoặc đồng thời với đàm phán nhượng quyền vì nhiều thị trường theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, tránh bị đối tác đăng ký chiếm nhãn hiệu. Hợp đồng phải khóa quyền sử dụng nhãn hiệu, kiểm soát chất lượng và cấm bên nhận quyền đăng ký nhãn hiệu tương tự.

Thuế với phí nhượng quyền thu từ nước ngoài?

Phí nhượng quyền thu từ nước ngoài là doanh thu chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của thương nhân Việt Nam tại Việt Nam. Về thuế giá trị gia tăng, cung cấp quyền thương mại cho tổ chức nước ngoài có thể áp dụng thuế suất 0% nếu đáp ứng điều kiện dịch vụ xuất khẩu — dịch vụ tiêu dùng ngoài Việt Nam, có hợp đồng và thanh toán qua ngân hàng; không đủ điều kiện thì áp dụng thuế suất thông thường. Chiều ra không có thuế nhà thầu tại Việt Nam, nhưng nước đến có thể khấu trừ thuế tại nguồn và hợp đồng phải phân bổ rõ nghĩa vụ này cùng chứng từ liên quan tới điều ước tránh đánh thuế hai lần.

Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng