FLAT LAW FIRM

Thuế

Thuế TNCN cho chuyên gia Philippines tại Việt Nam: cư trú, 183 ngày và hiệp định

Chuyên gia Philippines hiện diện tại Việt Nam trong các trung tâm tiếng Anh, dịch vụ khách hàng và quy trình nghiệp vụ thuê ngoài (BPO), tàu biển và dịch vụ dầu khí phụ trợ. Đặc điểm chung của nhóm này là ít khi ký hợp đồng trực tiếp với đơn vị Việt Nam nơi họ ngồi làm việc: họ thường là nhân viên của một nhà thầu dịch vụ Philippines hoặc công ty dịch vụ nhân sự, được cử sang theo hợp đồng cung ứng dịch vụ. Chính cấu trúc này làm câu hỏi “ai là người sử dụng lao động” trở thành trung tâm của cả bài toán cư trú lẫn bài toán hiệp định. Bài viết phân tích chuyên gia Philippines; các quốc gia ASEAN khác trong loạt bài — Thái Lan có vấn đề phí dịch vụ kỹ thuật, Malaysia có vấn đề hiệp định lâu năm — được trình bày ở bài riêng.

1. Cư trú và nghĩa vụ khấu trừ tại Việt Nam

Theo Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15 (áp dụng từ kỳ tính thuế 2026, thay thế Luật 04/2007/QH12), cá nhân cư trú là người có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt, hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo hợp đồng thuê nhà có thời hạn. Giáo viên và chuyên gia Philippines làm việc theo năm học hoặc hợp đồng dịch vụ 12 tháng thường vượt ngưỡng cư trú ngay trong năm đầu: khi đó họ kê khai thu nhập toàn cầu theo biểu lũy tiến 5 bậc tại Điều 9, được giảm trừ gia cảnh theo Điều 10 (15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân; 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc), và đơn vị chi trả tại Việt Nam khấu trừ theo biểu lũy tiến như với lao động cư trú thông thường. Người sang theo dự án ngắn dưới ngưỡng cư trú chịu thuế suất 20% trên thu nhập tại Việt Nam, trừ khi hiệp định cho kết quả khác.

2. Hiệp định Việt Nam – Philippines và bài toán người sử dụng lao động thật

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam – Philippines đang có hiệu lực; điều khoản thu nhập từ việc làm phụ thuộc (Điều 15) chỉ cho phép lương chịu thuế tại Philippines khi đồng thời thỏa: có mặt tại Việt Nam không quá 183 ngày trong kỳ liên quan; người sử dụng lao động không cư trú tại Việt Nam; và khoản lương không do cơ sở thường trú của người sử dụng lao động tại Việt Nam chịu. Trong mô hình nhà thầu dịch vụ, hai điều kiện sau phải được đọc trên bản chất: nếu nhà thầu Philippines chỉ là trung gian trả lương, còn đơn vị Việt Nam mới là bên tuyển chọn, điều hành công việc hằng ngày và chịu chi phí nhân sự qua phí dịch vụ tính theo đầu người, thì cơ quan thuế Việt Nam có cơ sở coi đơn vị Việt Nam là người sử dụng lao động thực chất — khi đó điều kiện hiệp định gãy và thu nhập chịu thuế tại Việt Nam từ đầu. Ngược lại, nếu nhà thầu thực sự tổ chức, quản lý và chịu trách nhiệm kết quả dịch vụ với đội ngũ của mình, cơ chế hiệp định đứng vững hơn cho các chuyến ngắn hạn. Phân tích này tương tự vấn đề bên chịu chi phí ở chuyên gia Thái Lan, nhưng điểm gãy ở đây là tư cách người sử dụng lao động chứ không chỉ là dòng tiền.

3. Chứng từ: giấy chứng nhận cư trú BIR và hồ sơ nhà thầu

Hồ sơ gồm giấy chứng nhận cư trú thuế do cơ quan thuế Philippines (BIR) cấp cho năm liên quan; hợp đồng cung ứng dịch vụ và hợp đồng lao động giữa chuyên gia với nhà thầu để xác định người sử dụng lao động; bảng lương và chứng từ phí dịch vụ thể hiện cách tính (trọn gói theo kết quả hay theo đầu người); lịch làm việc và dấu xuất nhập cảnh; và hồ sơ thông báo áp dụng hiệp định nếu đề nghị miễn khấu trừ. Một vướng mắc thực tế là nhiều chuyên gia Philippines đồng thời là người lao động Philippines ở nước ngoài (OFW) với các thủ tục riêng phía Philippines; các giấy tờ phía Philippines không thay thế được hồ sơ thuế tại Việt Nam, và phía Việt Nam vẫn yêu cầu quyết toán hoặc khấu trừ đúng theo trạng thái cư trú đã xác định.

4. Rủi ro thường gặp và cách xử lý

Rủi ro lớn nhất là mặc định “có nhà thầu đứng giữa thì cá nhân được miễn” — mặc định này sai khi đơn vị Việt Nam là người sử dụng lao động thực chất hoặc khi chuyên gia đã vượt ngưỡng cư trú. Rủi ro thứ hai là khấu trừ sai biểu: áp thuế suất 20% của người không cư trú cho giáo viên, chuyên gia đã là cá nhân cư trú, hoặc ngược lại áp biểu lũy tiến cho người chưa cư trú mà không có căn cứ hiệp định. Rủi ro thứ ba là hồ sơ phí dịch vụ ghi theo đầu người minh bạch đến mức tự nó chứng minh chi phí nhân sự do phía Việt Nam chịu, phá vỡ điều kiện hiệp định mà doanh nghiệp định dựa vào. Xử lý bền vững là xác định ba việc ngay từ khi ký hợp đồng dịch vụ: người sử dụng lao động thực chất là ai; thời lượng hiện diện dự kiến của từng chuyên gia so với hai ngưỡng 183 ngày; và cơ chế khấu trừ mặc định nếu hồ sơ hiệp định không hoàn thiện kịp.

Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng