Khác với suy nghĩ của nhiều nhà quản lý nhà máy, lực lượng sơ cứu, cấp cứu không phải là hoạt động tự nguyện: Thông tư 19/2016/TT-BYT đặt định mức nhân sự sơ cứu cụ thể theo quy mô lao động và yêu cầu mỗi ca làm việc đều phải có người chịu trách nhiệm sơ cứu. Với doanh nghiệp FDI có hàng nghìn công nhân, đây là nghĩa vụ tổ chức phải được thiết kế ngay từ khi nhà máy vận hành.
Định mức lực lượng sơ cứu theo Thông tư 19/2016/TT-BYT
Điều 7 Thông tư số 19/2016/TT-BYT quy định lực lượng sơ cứu, cấp cứu gồm người lao động được người sử dụng lao động phân công và người làm công tác y tế tại cơ sở. Với cơ sở sản xuất, kinh doanh có công việc thuộc danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động: dưới 100 người lao động phải bố trí ít nhất 01 người làm công tác sơ cứu, cấp cứu; cứ mỗi 100 người lao động tăng thêm phải bố trí thêm ít nhất 01 người. Với cơ sở khác: dưới 200 người lao động ít nhất 01 người; cứ mỗi 150 người tăng thêm thêm ít nhất 01 người. Trong mọi trường hợp, mỗi ca làm việc hoặc nhóm làm việc lưu động phải có người hoặc lực lượng chịu trách nhiệm sơ cứu, cấp cứu.
Đi cùng nhân sự là trang bị bắt buộc: túi sơ cứu đặt tại khu vực làm việc, nơi dễ thấy, dễ lấy, có ký hiệu chữ thập, với số lượng theo Phụ lục 4 của Thông tư — khu vực không quá 25 người lao động phải có ít nhất 01 túi loại A, từ 26 đến 50 người ít nhất 01 túi loại B, từ 51 đến 150 người ít nhất 01 túi loại C. Cơ sở có trên 300 người cùng lao động tập trung trên một mặt bằng phải bố trí khu vực sơ cứu, cấp cứu riêng theo Điều 8.
Ai được làm nhân viên sơ cứu và cần được huấn luyện thế nào
Người lao động được phân công vào lực lượng sơ cứu phải đáp ứng ba tiêu chí tại khoản 1 Điều 7 Thông tư 19/2016/TT-BYT: có đủ sức khỏe và tình nguyện tham gia hoạt động sơ cứu, cấp cứu; có thể có mặt sớm nhất tại vị trí xảy ra tai nạn trong thời gian làm việc; và đã được huấn luyện về sơ cứu, cấp cứu theo Điều 9 của Thông tư. Nội dung huấn luyện bao gồm kỹ thuật băng bó, cầm máu, cố định gãy xương, hô hấp nhân tạo, vận chuyển nạn nhân và xử trí các tình huống đặc thù của ngành sản xuất như bỏng hóa chất, điện giật.
Doanh nghiệp có thể tự tổ chức huấn luyện nếu có người đủ năng lực chuyên môn y tế hướng dẫn, hoặc ký hợp đồng với cơ sở y tế, đơn vị huấn luyện an toàn lao động. Điểm thường bị bỏ sót là tính định kỳ và hồ sơ: kết quả huấn luyện phải được lưu cùng danh sách lực lượng sơ cứu công bố công khai tại khu vực làm việc — vị trí túi sơ cứu, danh sách thành viên lực lượng sơ cứu là thông tin bắt buộc công bố để người lao động biết và sử dụng khi cần thiết theo khoản 1 Điều 5 Thông tư này.
Hậu quả pháp lý khi tai nạn xảy ra mà không tổ chức sơ cứu kịp thời
Luật An toàn, vệ sinh lao động 84/2015/QH13 đặt nghĩa vụ lên người sử dụng lao động phải tổ chức sơ cứu, cấp cứu kịp thời cho người lao động bị tai nạn và chịu chi phí liên quan. Khi tai nạn xảy ra, việc có hay không có lực lượng sơ cứu tại chỗ, thời gian từ lúc tai nạn đến khi nạn nhân được sơ cứu là những tình tiết cơ quan điều tra tai nạn lao động ghi nhận đầu tiên; doanh nghiệp không bố trí lực lượng sơ cứu theo định mức sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không tổ chức hoạt động sơ cứu, cấp cứu theo nghị định xử phạt lĩnh vực lao động hiện hành, độc lập với trách nhiệm bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động.
Về mặt quản trị rủi ro, doanh nghiệp FDI nên coi hồ sơ sơ cứu là một phần của hồ sơ an toàn tổng thể: quyết định phân công lực lượng sơ cứu theo từng ca, chứng nhận huấn luyện, biên bản kiểm tra túi sơ cứu định kỳ và nhật ký các lần sơ cứu thực tế. Khi xảy ra tai nạn nghiêm trọng, bộ hồ sơ này chứng minh doanh nghiệp đã thực hiện nghĩa vụ tổ chức, giúp tách bạch trách nhiệm tổ chức của doanh nghiệp khỏi yếu tố bất khả kháng trong sự cố.
Câu hỏi thường gặp
Nhà máy có bắt buộc có đội sơ cấp cứu?
Có. Điều 7 Thông tư 19/2016/TT-BYT bắt buộc người sử dụng lao động bố trí lực lượng sơ cứu, cấp cứu: cơ sở có công việc thuộc danh mục nghiêm ngặt phải có ít nhất 01 người sơ cứu cho dưới 100 người lao động và thêm ít nhất 01 người cho mỗi 100 người tăng thêm; cơ sở khác ít nhất 01 người cho dưới 200 người và thêm 01 người cho mỗi 150 người tăng thêm. Mỗi ca làm việc hoặc nhóm lưu động đều phải có người chịu trách nhiệm sơ cứu, cấp cứu.
Ai được làm nhân viên sơ cứu, cần chứng chỉ gì?
Người lao động được phân công phải đủ sức khỏe, tình nguyện, có thể có mặt sớm nhất tại vị trí tai nạn và đã được huấn luyện sơ cứu, cấp cứu theo Điều 9 Thông tư 19/2016/TT-BYT; người làm công tác y tế tại cơ sở đương nhiên thuộc lực lượng này. Thông tư không yêu cầu một loại ‘chứng chỉ sơ cứu’ độc lập do cơ quan nhà nước cấp — căn cứ là quyết định phân công của doanh nghiệp kèm hồ sơ huấn luyện đã hoàn thành.
Tai nạn lao động mà không sơ cứu kịp có bị phạt?
Có rủi ro bị phạt. Không bố trí lực lượng sơ cứu theo định mức hoặc không tổ chức sơ cứu, cấp cứu kịp thời khi tai nạn xảy ra là hành vi vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng lao động theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 84/2015/QH13 và bị xử phạt vi phạm hành chính theo nghị định xử phạt lĩnh vực lao động hiện hành, chưa kể trách nhiệm bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động và việc tình tiết chậm sơ cứu bị ghi nhận bất lợi trong kết luận điều tra tai nạn.
Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng