FLAT LAW FIRM

Cá nhân & Gia đình

Đổi họ tên cho con sau ly hôn: có cần sự đồng ý của cha/mẹ kia không?

pexels 7880791 mother daughter walking

Sau ly hôn, nhiều bà mẹ muốn đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ để thuận tiện cho việc học hành, đi lại và sinh hoạt hằng ngày. Câu hỏi đầu tiên và quan trọng nhất là: việc này có cần sự đồng ý của người cha không, khi người cha không còn trực tiếp nuôi con? Câu trả lời ngắn gọn là có. Theo quy định hiện hành, việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi phải có sự đồng ý của cả cha và mẹ, thể hiện rõ trong Tờ khai; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của chính con.

Bài viết này phân tích đúng trường hợp đổi họ cho con sau ly hôn: ai phải đồng ý, người mẹ trực tiếp nuôi con có được quyết một mình không, cha không đồng ý thì xử lý thế nào, cha mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì sao, hồ sơ gồm những gì và nộp ở đâu theo thẩm quyền hiện hành tại ngày 27/10/2026.

Đổi họ cho con sau ly hôn có căn cứ pháp luật nào?

Quyền thay đổi họ được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự 2015 (Luật số 91/2015/QH13). Điểm a khoản 1 Điều 27 quy định cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp “thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại”. Đây chính là căn cứ trực tiếp cho việc đổi họ cho con từ họ cha sang họ mẹ sau ly hôn.

Cùng với đó, Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận quyền có họ, tên của cá nhân và nguyên tắc xác định họ của con: họ của con được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì theo tập quán; trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ. Khi chỉ đổi tên (không đổi họ) thì căn cứ là Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó khoản 1 liệt kê các trường hợp được yêu cầu thay đổi tên và khoản 2 quy định việc thay đổi tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

Về thủ tục hộ tịch, khoản 1 Điều 26 Luật Hộ tịch 2014 (Luật số 60/2014/QH13) xác định phạm vi thay đổi hộ tịch gồm việc thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự. Như vậy, đổi họ cho con sau ly hôn không phải là thủ tục của riêng Tòa án khi xử ly hôn, mà là thủ tục đăng ký thay đổi hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch, trên cơ sở căn cứ dân sự nêu trên.

Ai phải đồng ý khi đổi họ cho con chưa thành niên?

Điều kiện quyết định nằm tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP (ngày 15/11/2015, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch): “Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của người đó.”

Áp vào trường hợp sau ly hôn, danh sách người phải đồng ý gồm:

  • Cả cha và mẹ của con, dù chỉ một người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Ly hôn chấm dứt quan hệ vợ chồng, nhưng không chấm dứt quan hệ cha mẹ — con. Người mẹ trực tiếp nuôi con không vì thế mà có quyền quyết một mình về họ của con.
  • Chính đứa con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên. Khoản 2 Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015 quy định việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó; khoản 2 Điều 28 quy định tương tự đối với việc thay đổi tên. Con dưới 9 tuổi thì pháp luật không yêu cầu lấy ý kiến đồng ý của con, nhưng vẫn bắt buộc có sự đồng ý của cả cha và mẹ.
  • Không cần sự đồng ý của ông bà nội, ngoại hay của chồng mới của mẹ. Những người này không thuộc diện “cha, mẹ” theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, trừ trường hợp họ là người giám hộ hợp pháp trong các tình huống đặc biệt nêu ở mục dưới.

Cần phân biệt hai mốc tuổi hay bị nhầm lẫn. Mốc 7 tuổi trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 liên quan đến việc giao con cho ai nuôi: khi Tòa án quyết định người trực tiếp nuôi con mà không thỏa thuận được, nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con (khoản 2 Điều 81). Mốc 9 tuổi mới là mốc của việc đổi họ, tên: từ đủ 9 tuổi trở lên, không có sự đồng ý của con thì không đủ điều kiện đăng ký thay đổi. Hai mốc này phục vụ hai việc khác nhau, không thay thế nhau.

Người chưa thành niên được hiểu là người chưa đủ 18 tuổi (khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015), và cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên (khoản 1 Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015). Chính vì con chưa tự mình thực hiện được thủ tục này nên pháp luật mới đặt ra yêu cầu đồng ý kép: cha mẹ đồng ý thay cho con, và con từ đủ 9 tuổi trở lên đồng ý cho chính mình.

Ly hôn rồi, người cha không nuôi con còn quyền quyết về họ của con không?

Còn. Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật số 52/2014/QH13) quy định sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Điều 82 quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ cấp dưỡng và tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Điều 83 quy định cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Hệ quả là: việc người cha không trực tiếp nuôi con, thậm chí người cha không thực hiện tốt nghĩa vụ cấp dưỡng hay ít thăm nom, cũng không tự động làm mất quyền đồng ý của người cha đối với việc đổi họ cho con. Khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP yêu cầu sự đồng ý của “cha, mẹ” mà không đặt ngoại lệ cho trường hợp cha không nuôi con hoặc không cấp dưỡng. Vì vậy, lập luận “mẹ nuôi con thì mẹ tự quyết họ của con” không có cơ sở trong quy định hiện hành.

Ngược lại, việc đổi họ cho con cũng không làm thay đổi các quyền, nghĩa vụ khác. Khoản 3 Điều 27 và khoản 3 Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015 đều quy định việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ. Đổi họ cho con sang họ mẹ không làm mất quyền thăm nom của cha, không xóa nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, không thay đổi người trực tiếp nuôi con và không thay đổi quyền thừa kế của con. Đây là điểm cần nói rõ với cả hai bên để tránh hiểu lầm rằng đổi họ là “cắt đứt” quan hệ cha con.

Cha không đồng ý thì xử lý thế nào?

Nếu người cha còn sống, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và từ chối đồng ý, hồ sơ đăng ký thay đổi họ cho con chưa đủ điều kiện và cơ quan đăng ký hộ tịch không có căn cứ để giải quyết. Pháp luật hiện hành không quy định thủ tục hành chính nào để thay thế, vượt qua hay “xin phép Tòa án cho đổi họ mặc dù cha không đồng ý”. Bản án, quyết định ly hôn cũng không quyết định việc đổi họ cho con; Tòa án khi xử ly hôn chỉ quyết định về quan hệ hôn nhân, người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng và tài sản, chứ không tuyên đổi họ cho con trong cùng vụ án.

Các hướng xử lý thực tế, theo thứ tự nên cân nhắc, là:

  1. Thỏa thuận lại với người cha. Nêu rõ lý do đổi họ gắn với lợi ích thiết thực của con (đi học, khám chữa bệnh, giấy tờ đồng bộ với người trực tiếp nuôi dưỡng) và khẳng định đổi họ không làm mất quyền thăm nom, cấp dưỡng hay quyền làm cha của anh ta. Nhiều trường hợp bế tắc chỉ vì người cha hiểu lầm rằng đổi họ đồng nghĩa với việc bị tước quyền làm cha.
  2. Hòa giải ở cơ sở. Nhờ tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố hoặc UBND cấp xã hỗ trợ hòa giải tranh chấp gia đình trước khi nghĩ đến các biện pháp pháp lý khác. Hòa giải thành thì hai bên cùng ký thể hiện sự đồng ý trong Tờ khai và nộp hồ sơ bình thường.
  3. Không tự ý đổi họ của con trên các giấy tờ khác. Việc ghi họ mới của con vào hồ sơ học tập, khám chữa bệnh hay giấy tờ tùy thân trong khi Giấy khai sinh vẫn mang họ cũ sẽ tạo ra hai danh tính giấy tờ không khớp nhau, gây rắc rối lớn hơn về sau khi cần đối chiếu. Mọi giấy tờ khác chỉ nên đính chính sau khi Giấy khai sinh đã được thay đổi hợp pháp.
  4. Chờ con đủ 18 tuổi. Khi con đã thành niên, chính con là người có quyền yêu cầu thay đổi họ, tên của mình theo Điều 27, Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015 mà không còn phải có sự đồng ý của cha, mẹ theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP nữa. Đây là lối ra hợp pháp cuối cùng nếu người cha kiên quyết không đồng ý trong suốt thời gian con chưa thành niên.

Một lưu ý khác: nếu lý do thực sự là người cha có hành vi xâm hại, bạo lực hoặc lạm dụng việc thăm nom gây ảnh hưởng xấu đến con, hướng xử lý là yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom theo Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Điều 84, chứ không phải dùng việc đổi họ như biện pháp trừng phạt. Hai việc này thuộc hai thủ tục khác nhau và không thay thế nhau.

Cha mất tích, đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì sao?

Yêu cầu đồng ý của “cha, mẹ” tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP đặt ra cho trường hợp cả cha và mẹ đều còn sống và có khả năng thể hiện ý chí. Khi một bên không còn khả năng đó, hồ sơ không thể có chữ ký đồng ý của người đó, và cách xử lý là nộp kèm giấy tờ chứng minh tình trạng pháp lý của người đó để cơ quan đăng ký hộ tịch xem xét, thay vì bỏ trống phần đồng ý:

  • Cha đã chết: nộp kèm Giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử của người cha.
  • Cha biệt tích, mất tích: “không liên lạc được” hay “bỏ đi nhiều năm” tự nó chưa đủ. Cần có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất tích — theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết thì Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích — hoặc quyết định tuyên bố người đó đã chết theo Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015 (trong đó có trường hợp biệt tích 5 năm liền trở lên, hoặc sau 3 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống). Thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích, tuyên bố chết là thủ tục dân sự riêng, thực hiện trước khi nộp hồ sơ đổi họ.
  • Cha bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: ý kiến của người cha khi đó được thể hiện thông qua người giám hộ, người đại diện theo pháp luật của người cha theo quyết định của Tòa án. Trường hợp này nên hỏi trước cơ quan đăng ký hộ tịch về giấy tờ chứng minh tư cách của người giám hộ, vì mỗi hồ sơ có hoàn cảnh khác nhau.

Điểm chung của cả ba trường hợp: cơ quan đăng ký hộ tịch quyết định trên cơ sở giấy tờ chứng minh, chứ không có quy định cho phép người mẹ tự xác nhận “cha đã mất tích” bằng lời khai của mình để thay cho quyết định của Tòa án. Vì vậy, nếu cha chỉ đang ở xa, ở nước ngoài hoặc cố tình cắt liên lạc nhưng vẫn xác định được là còn sống, thì vẫn cần sự đồng ý của người cha — khoảng cách địa lý không miễn trừ yêu cầu đồng ý. Trường hợp cha ở xa, người mẹ nên hỏi trước UBND cấp xã nơi nộp hồ sơ về cách thể hiện chữ ký đồng ý của người cha (ví dụ ký vào Tờ khai rồi chứng thực chữ ký) để tránh phải đi lại nhiều lần.

Hồ sơ đổi họ cho con sau ly hôn gồm những gì?

Theo khoản 1 Điều 28 Luật Hộ tịch 2014, người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp Tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Vận dụng vào trường hợp đổi họ cho con sau ly hôn, hồ sơ thường gồm:

  • Tờ khai đăng ký thay đổi hộ tịch theo mẫu, trong đó thể hiện rõ sự đồng ý của cha, mẹ và — nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên — sự đồng ý của con (khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP). Đây là giấy tờ quan trọng nhất: thiếu phần đồng ý này, hồ sơ chưa đủ điều kiện.
  • Bản chính Giấy khai sinh của con.
  • Giấy tờ tùy thân của người nộp hồ sơ (căn cước công dân hoặc giấy tờ tương đương).
  • Giấy tờ làm căn cứ cho việc thay đổi: bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật (chứng minh hoàn cảnh sau ly hôn) và giấy tờ chứng minh họ đề nghị đổi sang là họ của mẹ (ví dụ căn cước công dân của mẹ).
  • Trường hợp đặc biệt: Giấy chứng tử, trích lục khai tử, quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích, tuyên bố chết hoặc tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự (nếu áp dụng) — như phân tích ở mục trên.

Người nộp hồ sơ nên mang theo bản sao các giấy tờ để đối chiếu và hỏi trước bộ phận một cửa về lệ phí hộ tịch áp dụng tại địa phương, vì mức lệ phí do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định và có thể khác nhau giữa các địa phương.

Nộp hồ sơ ở đâu và bao lâu thì có kết quả?

Về thẩm quyền, Điều 27 Luật Hộ tịch 2014 quy định UBND cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi. Phần thẩm quyền còn lại trước đây thuộc về cấp huyện. Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, không còn cấp huyện, và Nghị định 120/2025/NĐ-CP đã chuyển giao thẩm quyền đăng ký hộ tịch của cấp huyện cho UBND cấp xã. Do đó, tại ngày 27/10/2026, mọi trường hợp đổi họ cho con của công dân cư trú trong nước đều nộp tại UBND cấp xã — nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc nơi cư trú của con (hoặc của người yêu cầu) — và nộp qua bộ phận một cửa của xã, qua bưu chính hoặc qua dịch vụ công trực tuyến.

Về thời hạn, khoản 2 Điều 28 Luật Hộ tịch 2014 quy định: trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp — hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc. Nếu đăng ký thay đổi không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây, UBND cấp xã nơi giải quyết phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến UBND nơi đăng ký trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch (khoản 3 Điều 28).

Sau khi có trích lục thay đổi hộ tịch, người mẹ nên đính chính họ của con trên các giấy tờ liên quan khác (hồ sơ học tập, bảo hiểm y tế, giấy tờ tùy thân khi đến tuổi) để toàn bộ giấy tờ đồng bộ với Giấy khai sinh mới. Như đã nêu, việc thay đổi họ không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự đã xác lập theo họ cũ (khoản 3 Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015).

Mẹ tái hôn thì chồng mới có quyền quyết về họ của con không?

Không. Chồng mới của mẹ không phải là cha đẻ của con nên không thuộc diện phải đồng ý — và cũng không có quyền thay thế sự đồng ý của cha đẻ — theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP. Việc mẹ tái hôn không làm thay đổi quan hệ cha con giữa con và cha đẻ, cũng không chuyển quyền quyết về họ của con sang chồng mới.

Trường hợp duy nhất làm phát sinh quan hệ pháp lý mới là khi chồng mới nhận con làm con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi 2010. Khi đó, khoản 2 Điều 26 Luật Hộ tịch 2014 cho phép thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi, và việc thay đổi họ cho con nuôi thực hiện theo điểm b khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015 (thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi). Đây là thủ tục nhận con nuôi, hoàn toàn khác với thủ tục đổi họ cho con sau ly hôn trình bày trong bài này, và vẫn cần tuân thủ điều kiện về sự đồng ý theo quy định của Luật Nuôi con nuôi.

Căn cứ pháp lý tra cứu

  • Bộ luật Dân sự 2015 (Luật số 91/2015/QH13): Điều 21, Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 68, Điều 71, Điều 136.
  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật số 52/2014/QH13): Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84.
  • Luật Hộ tịch 2014 (Luật số 60/2014/QH13): Điều 26, Điều 27, Điều 28.
  • Nghị định 123/2015/NĐ-CP (ngày 15/11/2015): Điều 7.
  • Nghị định 120/2025/NĐ-CP (phân định thẩm quyền chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, hiệu lực từ 01/7/2025): thẩm quyền đăng ký hộ tịch chuyển về UBND cấp xã.
  • Luật Nuôi con nuôi 2010 (chỉ viện dẫn cho trường hợp chồng mới nhận con nuôi).

Lưu ý: bài viết trình bày quy định pháp luật hiện hành tại ngày 27/10/2026 để tham khảo; trường hợp cụ thể nên hỏi trước UBND cấp xã nơi nộp hồ sơ hoặc luật sư, vì cách áp dụng có thể khác nhau tùy hoàn cảnh và giấy tờ thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Đổi họ cho con sau ly hôn có cần sự đồng ý của cha không?

Có. Khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP yêu cầu việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi phải có sự đồng ý của cha, mẹ và được thể hiện rõ trong Tờ khai. Người mẹ trực tiếp nuôi con sau ly hôn không được quyết một mình, kể cả khi người cha không trực tiếp nuôi con.

Con bao nhiêu tuổi thì bản thân con cũng phải đồng ý?

Từ đủ 9 tuổi trở lên. Khoản 2 Điều 27 và khoản 2 Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015 đều quy định việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó, và khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP nhắc lại yêu cầu này. Con dưới 9 tuổi thì chỉ cần sự đồng ý của cha và mẹ.

Cha không cấp dưỡng, không thăm nom thì mẹ có được tự đổi họ cho con không?

Không. Quyền đồng ý của cha theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP không bị mất đi chỉ vì cha không thực hiện tốt nghĩa vụ cấp dưỡng hay thăm nom. Muốn xử lý việc cha không cấp dưỡng, người mẹ yêu cầu thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án; muốn hạn chế quyền thăm nom khi việc thăm nom gây ảnh hưởng xấu đến con thì yêu cầu Tòa án theo Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Đổi họ không phải là biện pháp thay thế cho các yêu cầu đó.

Cha không đồng ý thì có cách nào vẫn đổi được họ cho con không?

Không có thủ tục hành chính nào vượt qua sự đồng ý của cha khi cha còn sống và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Hướng thực tế là thỏa thuận lại, hòa giải ở cơ sở, hoặc chờ con đủ 18 tuổi để con tự mình yêu cầu thay đổi họ, tên theo Điều 27, Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015. Bản án ly hôn không quyết định việc đổi họ cho con.

Cha mất tích nhiều năm, không liên lạc được thì làm sao?

“Không liên lạc được” chưa đủ; cần quyết định của Tòa án tuyên bố cha mất tích (biệt tích 2 năm liền trở lên, khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015) hoặc tuyên bố cha đã chết (Điều 71 Bộ luật Dân sự 2015), rồi nộp quyết định đó kèm hồ sơ đổi họ để cơ quan đăng ký hộ tịch xem xét. Nếu cha đã chết thì nộp Giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử.

Nộp hồ sơ đổi họ cho con ở đâu, bao lâu có kết quả?

Tại UBND cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc nơi cư trú — từ 01/7/2025, theo Nghị định 120/2025/NĐ-CP, thẩm quyền đăng ký hộ tịch đã chuyển hết về cấp xã, không còn nộp ở cấp huyện. Thời hạn giải quyết là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, kéo dài thêm tối đa 03 ngày làm việc nếu cần xác minh (khoản 2 Điều 28 Luật Hộ tịch 2014).

Đổi họ cho con có làm mất quyền thăm nom và nghĩa vụ cấp dưỡng của cha không?

Không. Khoản 3 Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015 quy định việc thay đổi họ không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 vẫn bảo đảm quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng của người đó.

Mẹ tái hôn, chồng mới có được quyết đổi họ cho con riêng của vợ không?

Không. Chồng mới không phải cha đẻ nên không thay thế được sự đồng ý của cha đẻ theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP. Chỉ khi chồng mới nhận con làm con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi 2010 thì mới phát sinh căn cứ thay đổi họ, thông tin cha mẹ trong khai sinh theo khoản 2 Điều 26 Luật Hộ tịch 2014 và điểm b khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự 2015.