Thời kỳ đặt hàng nước ngoài giá rẻ mà không phải nghĩ đến thuế nhập khẩu đã kết thúc. Từ ngày 18/02/2025, Quyết định 01/2025/QĐ-TTg bãi bỏ Quyết định 78/2010/QĐ-TTg — chính sách miễn thuế giá trị gia tăng cho hàng trị giá thấp gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh không còn tồn tại, và mọi lô hàng thương mại điện tử xuyên biên giới đều chịu thuế như hàng nhập khẩu thông thường. Cùng lúc, Nghị định 117/2025/NĐ-CP dựng cơ chế khấu trừ, nộp thay qua sàn thương mại điện tử. Bài viết làm rõ bức tranh thuế mới của hàng trị giá thấp qua chuyển phát nhanh.
Căn cứ pháp lý
- Quyết định 01/2025/QĐ-TTg bãi bỏ Quyết định 78/2010/QĐ-TTg, hiệu lực từ 18/02/2025: hàng hóa nhập khẩu trị giá thấp gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh không còn thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu; áp dụng chính sách thuế theo pháp luật hiện hành.
- Luật Thuế giá trị gia tăng 48/2024/QH15: hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu theo thuế suất tương ứng, trừ các đối tượng không chịu thuế theo Điều 5 của luật; thuế nhập khẩu theo biểu thuế ưu đãi tùy xuất xứ và mã số hàng hóa.
- Nghị định 117/2025/NĐ-CP, hiệu lực 01/7/2025: quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh — tổ chức quản lý sàn và nền tảng có chức năng đặt hàng, thanh toán thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay; nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú kê khai qua cổng thông tin dành cho nhà cung cấp nước ngoài.
- Thủ tục hải quan đối với hàng hóa gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh theo pháp luật hải quan: doanh nghiệp chuyển phát nhanh được ủy quyền thay mặt chủ hàng thực hiện thủ tục khai báo cho hàng trị giá thấp theo luồng thủ tục đơn giản, đồng thời là kênh thu hộ thuế trong mô hình bán hàng mà thuế chưa được thu tại điểm bán.
Hết miễn thuế ở khâu nhập khẩu: người mua thực tế trả gì?
Trước thay đổi, chính sách của Quyết định 78/2010/QĐ-TTg khiến hàng trị giá dưới ngưỡng gửi qua chuyển phát nhanh được miễn thuế nhập khẩu và không chịu thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu — một lợi thế giá đáng kể cho hàng thương mại điện tử xuyên biên giới so với hàng nhập khẩu chính ngạch. Sau Quyết định 01/2025/QĐ-TTg, lợi thế đó biến mất: lô hàng qua chuyển phát nhanh chịu thuế nhập khẩu theo mã số và xuất xứ như mọi lô hàng nhập khẩu, và chịu thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu trên trị giá tính thuế cộng thuế nhập khẩu. Người mua nhìn thấy sự thay đổi qua một trong hai hình thức: giá hiển thị trên sàn nước ngoài đã bao gồm thuế Việt Nam vì nhà bán hoặc sàn đã thu và nộp qua cơ chế nhà cung cấp nước ngoài; hoặc người mua trả thêm thuế cho doanh nghiệp chuyển phát nhanh khi nhận hàng trong mô hình thuế thu tại khâu giao hàng. Hiểu mô hình thu của từng sàn trước khi đặt hàng là cách tránh tranh chấp phí phát sinh, và doanh nghiệp Việt Nam mua hàng mẫu, linh kiện qua kênh này phải tính thuế vào giá thành thay vì giả định miễn thuế như trước.
Cơ chế khấu trừ của sàn theo Nghị định 117/2025: thuế được thu tại điểm bán
Nghị định 117/2025/NĐ-CP dịch điểm thu thuế lên phía trước, tại nền tảng: tổ chức quản lý sàn thương mại điện tử và nền tảng số có chức năng đặt hàng, thanh toán thực hiện khấu trừ số thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập của hộ, cá nhân kinh doanh trên sàn trên từng giao dịch, kê khai và nộp thay theo kỳ. Với hàng xuyên biên giới, nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam đăng ký và kê khai thuế qua Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài, nộp thuế trên doanh thu từ người mua Việt Nam — trong đó có thuế giá trị gia tăng của hàng bán vào Việt Nam theo cơ chế quản lý tương ứng. Hệ quả cho người bán nhỏ trong nước là cạnh tranh công bằng hơn về thuế so với trước; hệ quả cho sàn và nhà cung cấp nước ngoài là nghĩa vụ hệ thống: phân loại giao dịch chịu thuế, tách thuế trong giá hiển thị, đối soát với dữ liệu hải quan của dòng hàng chuyển phát nhanh. Người mua doanh nghiệp cần bằng chứng thuế đã được nộp ở tầng sàn để xử lý thuế đầu vào và chi phí: yêu cầu nhà bán cung cấp xác nhận đã kê khai qua cổng nhà cung cấp nước ngoài hoặc chứng từ thu hộ của đơn vị chuyển phát nhanh, vì tờ khai nhập khẩu trị giá thấp theo luồng đơn giản không luôn mang đầy đủ thông tin cho hồ sơ khấu trừ thuế của doanh nghiệp mua hàng thường xuyên.
Thông quan hàng trị giá thấp: luồng đơn giản không có nghĩa là không kiểm soát
Hàng qua chuyển phát nhanh đi theo luồng thủ tục hải quan đơn giản hóa với khai báo điện tử gộp theo danh sách lô hàng do doanh nghiệp chuyển phát nhanh được ủy quyền thực hiện thay chủ hàng. Đơn giản về hồ sơ không đồng nghĩa lỏng về quản lý: cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro chọn mẫu kiểm tra thực tế, soi chiếu và kiểm tra sau thông quan đối với các mẫu hàng có dấu hiệu chia nhỏ lô để né ngưỡng, khai trị giá thấp giả tạo hoặc hàng cấm, hàng điều kiện trà trộn trong dòng hàng thương mại điện tử. Hành vi tách đơn, khai giảm trị giá bị xử phạt theo Nghị định 169/2026/NĐ-CP về xử phạt hải quan, và người mua tổ chức đứng sau các đơn hàng cá nhân để nhập hàng kinh doanh còn đối mặt rủi ro thuế nội địa: hàng không có hồ sơ nhập khẩu hợp lệ mang tên doanh nghiệp thì không đủ điều kiện ghi nhận chi phí và khấu trừ thuế đầu vào. Cấu trúc mua hàng xuyên biên giới cho mục đích kinh doanh cần được thiết kế lại sau thay đổi này: nhập chính ngạch theo lô, hoặc qua đơn vị ủy thác nhập khẩu có hồ sơ đầy đủ, thay vì phân tán qua đơn lẻ cá nhân.
Điểm nối quản trị nhân sự: quyết định tự động bằng AI và quyền của người lao động
Các sàn và doanh nghiệp logistics vận hành dòng hàng này cũng là nhóm dùng AI sớm nhất trong tuyển dụng và quản trị nhân sự — lĩnh vực mà quyết định tự động chạm trực tiếp quyền của người lao động theo Bộ luật Lao động và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 91/2025/QH15. Phần câu hỏi dưới đây làm rõ ranh giới hợp pháp.
Kết luận và khuyến nghị
Sau Quyết định 01/2025/QĐ-TTg và Nghị định 117/2025/NĐ-CP, thương mại điện tử xuyên biên giới qua chuyển phát nhanh vận hành trên ba nguyên tắc mới: không còn vùng miễn thuế theo trị giá ở khâu nhập khẩu; thuế được thu càng gần điểm bán càng tốt qua cơ chế khấu trừ của sàn và cổng nhà cung cấp nước ngoài; và luồng thông quan đơn giản đi kèm quản lý rủi ro chặt hơn với hành vi chia nhỏ, khai giảm trị giá. Người bán, sàn và doanh nghiệp mua hàng đều cần cập nhật mô hình giá, chứng từ thuế và quy trình nhập hàng theo ba nguyên tắc này.
Câu hỏi thường gặp
Doanh nghiệp FDI tuyển dụng, sa thải bằng thuật toán AI phải tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử nào?
Nguyên tắc cốt lõi là quyết định nhân sự bị đánh giá theo kết quả đối với người lao động, bất kể công cụ đưa ra quyết định là người hay thuật toán. Điều 8 Bộ luật Lao động 45/2019/QH14 cấm phân biệt đối xử trong lao động trên các căn cứ gồm giới tính, tuổi, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, tình trạng nhiễm HIV, khuyết tật và việc thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn. Thuật toán sàng lọc và chấm điểm có thể vi phạm nguyên tắc này theo hai cách: trực tiếp, khi tiêu chí đầu vào chứa một căn cứ bị cấm hoặc biến đại diện của nó (mã bưu chính làm đại diện cho dân tộc, khoảng trống nghề nghiệp làm đại diện cho thai sản); và gián tiếp, khi tiêu chí trung lập trên mặt chữ nhưng cho ra tỷ lệ loại bỏ chênh lệch lớn theo nhóm được bảo vệ mà doanh nghiệp không chứng minh được tính cần thiết cho công việc. Doanh nghiệp FDI còn chịu thêm lớp tuân thủ của tập đoàn và hiệp định thương mại về lao động, nhưng chuẩn tối thiểu tại Việt Nam là chuẩn Bộ luật Lao động. Biện pháp tuân thủ: kiểm toán thuật toán định kỳ về tác động theo nhóm, loại biến bị cấm và biến đại diện, giữ quyết định cuối cùng bởi con người có thẩm quyền, và áp dụng cùng một kỷ luật cho quyết định sa thải — căn cứ chấm dứt phải thuộc Điều 36 hoặc kỷ luật theo Điều 125 Bộ luật Lao động, dữ liệu AI chỉ là chứng cứ hỗ trợ.
Người lao động bị ảnh hưởng bởi quyết định tự động có quyền yêu cầu giải thích, xem xét lại không?
Có, theo khung bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện hành. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 91/2025/QH15 cùng Nghị định 356/2025/NĐ-CP đặt các quyết định dựa trên xử lý dữ liệu tự động có ảnh hưởng đáng kể đến quyền và lợi ích của chủ thể dữ liệu vào diện phải minh bạch: người lao động — với tư cách chủ thể dữ liệu — có quyền được biết dữ liệu cá nhân của mình được xử lý cho mục đích gì, quyết định tuyển dụng, đánh giá, chấm dứt có yếu tố tự động tham gia ở mức nào, và có cơ chế yêu cầu bên kiểm soát dữ liệu giải thích, rà soát lại quyết định có sự tham gia của con người khi cho rằng quyết định tự động là không chính xác hoặc không công bằng. Doanh nghiệp sử dụng hệ thống AI nhân sự phải chuẩn bị tương ứng: thông báo xử lý dữ liệu cá nhân cho người lao động nêu rõ việc dùng công cụ tự động trong đánh giá; quy trình tiếp nhận và trả lời yêu cầu xem xét lại quyết định trong thời hạn luật định; và nhật ký quyết định cho phép truy lại dữ liệu đầu vào và căn cứ của từng quyết định cụ thể. Quyền này song hành với quyền của người lao động trong quan hệ lao động — khiếu nại, yêu cầu hòa giải và khởi kiện về quyết định chấm dứt trái luật — và doanh nghiệp không thể viện dẫn ‘hệ thống AI quyết định’ để né tránh bất kỳ nghĩa vụ giải thích nào trong hai lớp quyền đó.
Doanh nghiệp dùng AI chấm điểm hiệu suất nhân viên phải thông báo và lưu hồ sơ gì?
Ba nhóm nghĩa vụ phải hoàn thành trước và trong khi vận hành hệ thống chấm điểm. Nhóm thông báo trước: người lao động phải được thông báo bằng văn bản về việc doanh nghiệp xử lý dữ liệu cá nhân qua hệ thống AI — loại dữ liệu thu thập (hiệu suất công việc, chấm công, dữ liệu hệ thống nội bộ, hình ảnh nếu có), mục đích chấm điểm, các tiêu chí và trọng số chính, hệ quả của điểm số đối với lương, thưởng, đánh giá và quyết định nhân sự, cùng quyền của người lao động về truy cập, đính chính dữ liệu và yêu cầu giải thích quyết định; đồng thời tiêu chí đánh giá hoàn thành công việc phải được ban hành thành văn bản theo Bộ luật Lao động, có tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động khi thuộc diện phải tham khảo, vì điểm AI chỉ có giá trị pháp lý khi neo vào hệ thống tiêu chí đã ban hành đó. Nhóm hồ sơ vận hành: lưu nhật ký từng kỳ chấm điểm gồm dữ liệu đầu vào, phiên bản mô hình và tiêu chí áp dụng, kết quả điểm, người có thẩm quyền phê duyệt cuối cùng và các điều chỉnh thủ công nếu có — đủ để tái dựng lại căn cứ của một quyết định khi bị khiếu nại. Nhóm lưu trữ và bảo mật: hồ sơ điểm và dữ liệu cá nhân liên quan được lưu trong thời hạn tương ứng hồ sơ lao động, áp dụng biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân theo Luật 91/2025/QH15 và Nghị định 356/2025/NĐ-CP, và chỉ người có chức năng mới được truy cập. Thiếu thông báo trước là lỗi bị phát hiện sớm nhất khi thanh tra lao động kiểm tra hệ thống AI nhân sự.
Trách nhiệm khi thuật toán ra quyết định sa thải sai thuộc về doanh nghiệp hay nhà cung cấp AI?
Trước người lao động và cơ quan nhà nước, trách nhiệm thuộc về doanh nghiệp sử dụng lao động; giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp phần mềm, trách nhiệm được phân bổ theo hợp đồng. Người lao động bị loại hồ sơ trái luật, bị chấm dứt hợp đồng trái luật hoặc bị xử lý dữ liệu cá nhân trái phép chỉ có quan hệ pháp lý với người sử dụng lao động và bên kiểm soát dữ liệu là doanh nghiệp: doanh nghiệp phải chịu hậu quả nhận lại làm việc, trả lương, bồi thường theo Bộ luật Lao động, và bị xử phạt hành chính về lao động theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP hoặc về bảo vệ dữ liệu cá nhân theo khung xử phạt tương ứng. Việc thuật toán do bên thứ ba cung cấp không phải là căn cứ miễn trừ — doanh nghiệp có nghĩa vụ thẩm định công cụ mình dùng vào quyết định nhân sự như mọi công cụ quản trị khác. Ở tầng hợp đồng, doanh nghiệp có thể và nên chuyển một phần rủi ro kinh tế sang nhà cung cấp bằng điều khoản cam kết về tính không phân biệt của mô hình, nghĩa vụ cung cấp tài liệu giải thích thuật toán phục vụ giải trình với cơ quan nhà nước, bồi thường thiệt hại phát sinh từ lỗi mô hình và hỗ trợ kỹ thuật khi có tranh chấp; nhưng các điều khoản đó chỉ có tác dụng nội bộ giữa hai bên, không đối kháng được với người lao động và không ngăn cơ quan nhà nước xử lý doanh nghiệp. Doanh nghiệp mua AI nhân sự mà không có các điều khoản này đang tự giữ toàn bộ rủi ro của một hệ thống mình không kiểm soát được.
Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng