Website bán hàng “có yếu tố nước ngoài” là gì?

Trong bài viết này, “website bán hàng có yếu tố nước ngoài” được hiểu là website thương mại điện tử bán hàng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, hoặc website của thương nhân nước ngoài hướng tới người tiêu dùng tại Việt Nam. Dù chủ sở hữu là ai, khi website có chức năng đặt hàng trực tuyến và phục vụ thị trường Việt Nam, nghĩa vụ thông báo với Bộ Công Thương đều đặt ra.
Nghĩa vụ thông báo: khi nào bắt buộc?

Theo Điều 27 Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 1 Nghị định 85/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021, hiệu lực 01/01/2022), thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website thương mại điện tử bán hàng có trách nhiệm thông báo với Bộ Công Thương về việc thiết lập website thương mại điện tử bán hàng nếu website có chức năng đặt hàng trực tuyến.
Theo khoản 1 Điều 53 (được sửa đổi bởi Nghị định 85/2021/NĐ-CP), việc thông báo được thực hiện trực tuyến với Bộ Công Thương thông qua Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử trước khi chính thức bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đến người dùng.
Nói cách khác: website chỉ giới thiệu, không có chức năng đặt hàng trực tuyến thì không thuộc diện phải thông báo; nhưng ngay khi website cho phép khách hàng đặt hàng trực tuyến, chủ sở hữu phải hoàn tất thủ tục thông báo trước khi bán hàng.
Phân biệt: thông báo website bán hàng và đăng ký sàn thương mại điện tử
| Tiêu chí | Website bán hàng | Sàn giao dịch TMĐT |
|---|---|---|
| Bản chất | Website của chính thương nhân để bán hàng hóa, dịch vụ của mình | Nền tảng cho phép thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành mua bán trên đó |
| Thủ tục | Thông báo với Bộ Công Thương | Đăng ký với Bộ Công Thương |
| Hình thức | Trực tuyến qua Cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT | Trực tuyến qua Cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT |
| Thời điểm | Trước khi chính thức bán hàng | Trước khi chính thức vận hành |
Nhà đầu tư nước ngoài mở sàn thương mại điện tử (cho phép người bán thứ ba tham gia) phải thực hiện thủ tục đăng ký — xem thêm bài viết về điều kiện mở sàn TMĐT của nhà đầu tư nước ngoài.
Các nghĩa vụ kèm theo của chủ sở hữu website bán hàng

Ngoài nghĩa vụ thông báo, Điều 27 Nghị định 52/2013/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 85/2021/NĐ-CP) quy định chủ sở hữu website thương mại điện tử bán hàng còn phải:
- Thực hiện đầy đủ việc cung cấp thông tin trên website và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của thông tin;
- Tuân thủ quy định về bảo vệ thông tin cá nhân của khách hàng (lưu ý: Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đặt ra khung nghĩa vụ mới, chặt chẽ hơn);
- Thực hiện các quy định về giao kết hợp đồng khi website có chức năng đặt hàng trực tuyến; quy định về thanh toán khi có chức năng thanh toán trực tuyến;
- Cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ thống kê, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm;
- Lưu trữ thông tin về các giao dịch thực hiện qua website theo quy định của pháp luật về kế toán; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế.
Lưu ý riêng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Doanh nghiệp FDI bán hàng hóa của chính mình qua website (không phải sàn cho bên thứ ba) chỉ phải thực hiện thủ tục thông báo — đơn giản hơn nhiều so với đăng ký sàn TMĐT.
- Nếu website có yếu tố thanh toán trực tuyến, phải tuân thủ quy định về trung gian thanh toán và bảo mật giao dịch.
- Không thực hiện thông báo theo quy định có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử — doanh nghiệp nên hoàn tất thủ tục trước khi website đi vào hoạt động bán hàng.
Bài viết được soạn thảo với sự soát xét của FLAW AI Legal Council và đang chờ Hội đồng QA rà soát trước khi trình chủ sở hữu phê duyệt. Đây không phải ý kiến của luật sư người thật và không thay thế tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể.
