FLAT LAW FIRM

Cá nhân & Gia đình

Quyền thăm nom, chăm sóc con sau ly hôn tại Việt Nam: quy định và tranh chấp thường gặp

Ly hôn chấm dứt quan hệ vợ chồng, nhưng không chấm dứt quan hệ cha mẹ và con. Người không trực tiếp nuôi con vẫn giữ một quyền được luật ghi nhận ở mức mạnh nhất có thể: quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13. Trên thực tế, đây cũng là điều khoản bị vi phạm nhiều nhất sau ly hôn, từ việc đổi lịch đón con không báo trước đến việc cắt đứt hoàn toàn liên lạc giữa con và cha hoặc mẹ còn lại.

Nội dung quyền thăm nom theo Điều 82 và nghĩa vụ đi kèm

Điều 82 đặt ba lớp quy định cho người không trực tiếp nuôi con. Khoản 1 buộc người đó tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, tức thăm nom không phải là công cụ để lôi kéo con bỏ nhà đang sống. Khoản 2 đặt nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, và nghĩa vụ này tồn tại độc lập với việc thăm nom có thuận lợi hay không: không ai được lấy lý do bị cản trở thăm con để ngừng cấp dưỡng, cũng không ai được lấy lý do chưa nhận cấp dưỡng để cấm thăm con. Khoản 3 là trung tâm của chế định: sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cách diễn đạt vừa là quyền vừa là nghĩa vụ cho thấy thăm nom không phải đặc ân do người nuôi con ban phát, mà là phần trách nhiệm làm cha, làm mẹ còn nguyên sau ly hôn.

Nghĩa vụ của phía trực tiếp nuôi con theo Điều 83

Điều 83 cân bằng phía còn lại. Khoản 1 cho người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi thực hiện các nghĩa vụ tại Điều 82 và yêu cầu người đó cùng gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Khoản 2 quy định rõ: cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đối tượng bị cấm cản trở vì vậy không chỉ là người trực tiếp nuôi con mà còn cả ông bà, người thân đang sống cùng nhà, những người trên thực tế thường là người đóng cổng, giấu lịch học hoặc từ chối mở cửa trong các tranh chấp điển hình.

Bị cản trở thăm nom: lộ trình xử lý thực tế

Bước đầu tiên luôn là cố định lịch thăm nom bằng văn bản. Nhiều bản án ly hôn chỉ ghi chung chung quyền thăm nom mà không chốt ngày giờ, địa điểm bàn giao, và khoảng trống đó là nguồn gốc của phần lớn xung đột. Hai bên có thể thỏa thuận lại lịch cụ thể và đề nghị Tòa án ghi nhận khi có tranh chấp phát sinh. Khi một bên liên tục cản trở, bên bị cản trở nên lưu giữ chứng cứ theo từng lần: tin nhắn từ chối, ghi nhận của bảo vệ khu dân cư hoặc nhà trường, vi bằng về việc đến đón con nhưng không được giao con. Với hồ sơ đó, người bị cản trở có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về thăm nom, chăm sóc con; trường hợp quyết định của Tòa án không được tự nguyện thi hành thì đề nghị cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo thủ tục thi hành án đối với quyết định về thăm nom. Nếu hành vi cản trở kéo dài và gây tổn hại rõ rệt cho quan hệ của con với người còn lại, nó còn có thể trở thành một tình tiết được cân nhắc khi xem xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Điều 84.

Khi nào quyền thăm nom bị hạn chế: khoản 3 Điều 82 và Điều 85

Quyền thăm nom không phải tuyệt đối. Ngay trong khoản 3 Điều 82, luật dành một ngoại lệ: cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hạn chế ở đây là quyết định của Tòa án, không phải quyền tự xử của người đang nuôi con. Ở tầng nghiêm trọng hơn, Điều 85 quy định cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên khi thuộc một trong bốn trường hợp tại khoản 1: bị kết án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Theo khoản 2 Điều 85, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức tại Điều 86 ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm, và có thể xem xét rút ngắn thời hạn này.

Các tranh chấp thường gặp và cách đọc đúng luật

Nhóm tranh chấp thứ nhất là lịch thăm nom: đón con qua đêm, dịp lễ Tết và kỳ nghỉ hè thường không được bản án cũ lường trước khi con còn nhỏ. Nhóm thứ hai là cách thăm nom: người thăm nom đưa con đi xa không thông báo, nói xấu người còn lại trước mặt con, hoặc can thiệp vào việc học hành, chữa bệnh vốn thuộc quyết định hằng ngày của người trực tiếp nuôi. Nhóm thứ ba là thăm nom trong trạng thái không an toàn, như đến đón con khi say rượu hoặc có hành vi gây rối. Cách đọc đúng luật là tách hai câu hỏi: người trực tiếp nuôi con không bao giờ được tự ý cấm thăm nom chỉ vì không hài lòng, nhưng mọi lo ngại cụ thể về an toàn và ảnh hưởng xấu đều có thể được đưa ra Tòa án để xin hạn chế có điều kiện, chẳng hạn thăm nom có người giám sát hoặc tại địa điểm trung gian, thay vì cắt đứt hoàn toàn.

Nếu gia đình đang bế tắc về lịch thăm nom hoặc bị cản trở kéo dài, FLAT Law Firm có thể hỗ trợ rà soát bản án và phương án yêu cầu Tòa án qua trang liên hệ.

Câu hỏi thường gặp

Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con được thăm nom con như thế nào?

Theo khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, sau ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Luật không ấn định sẵn lịch thăm nom; lịch cụ thể do cha mẹ thỏa thuận hoặc do Tòa án xác định trong bản án, quyết định, thường gồm thời gian đón, trả con, địa điểm bàn giao và các dịp lễ, nghỉ hè. Người thăm nom đồng thời phải tôn trọng quyền sống chung của con với người trực tiếp nuôi (khoản 1 Điều 82) và thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng (khoản 2 Điều 82).

Bị cản trở thăm nom con thì phải làm sao?

Trước hết nên thỏa thuận lại lịch thăm nom cụ thể bằng văn bản. Nếu vẫn bị cản trở, cần lưu chứng cứ từng lần bị từ chối (tin nhắn, vi bằng, xác nhận của nhà trường hoặc khu dân cư) và yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về thăm nom, chăm sóc con; quyết định của Tòa án không được tự nguyện thi hành thì đề nghị cơ quan thi hành án dân sự thi hành. Điều 83 khoản 2 cấm người trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình cản trở việc thăm nom, nên hành vi cản trở kéo dài cũng có thể được cân nhắc trong vụ việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Điều 84.

Quyền thăm nom con có thể bị hạn chế trong trường hợp nào?

Có hai tầng. Tầng thứ nhất theo khoản 3 Điều 82: người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom. Tầng thứ hai theo khoản 1 Điều 85: cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên khi bị kết án về tội xâm phạm con với lỗi cố ý hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; hoặc xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Mọi hạn chế đều phải do Tòa án quyết định, không bên nào được tự ý cấm.

Thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến con thì xử lý thế nào?

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom theo khoản 3 Điều 82, kèm chứng cứ về hành vi lạm dụng và ảnh hưởng cụ thể tới con. Trường hợp hành vi thuộc khoản 1 Điều 85, Tòa án có thể ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm theo khoản 2 Điều 85 và có thể rút ngắn thời hạn. Trong lúc chờ Tòa án giải quyết, người trực tiếp nuôi con vẫn không được tự ý cắt đứt hoàn toàn việc thăm nom nếu chưa có quyết định của Tòa án.

Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng