Một cặp vợ chồng ly hôn ở nước ngoài thường cầm trên tay một bản án hoàn toàn có hiệu lực ở nước đã xét xử, nhưng khi về Việt Nam xin xác nhận tình trạng hôn nhân để tái hôn, mua bán nhà hoặc làm thủ tục cho con, họ mới phát hiện bản án đó chưa tự nó tạo ra hiệu lực tại Việt Nam. Điều 125 Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 và Chương XXXV, XXXVI của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 thiết kế hai đường xử lý khác nhau cho bản án ly hôn nước ngoài, và việc chọn sai đường là nguyên nhân phổ biến nhất khiến hồ sơ bị kéo dài.
Đường thứ nhất: công nhận và cho thi hành khi bản án có nội dung cần thi hành tại Việt Nam
Điều 125 khoản 1 Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài có yêu cầu thi hành tại Việt Nam được thực hiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Với ly hôn, nhu cầu thi hành thường nằm ở các phần kèm theo bản án: chia tài sản tại Việt Nam, cấp dưỡng cho con, hoặc giao con cho một bên nuôi. Theo Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự, bản án về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành khi thuộc điều ước quốc tế mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên, hoặc trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại khi chưa có điều ước chung. Sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành, bản án có hiệu lực như bản án của Tòa án Việt Nam theo Điều 427 và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự.
Thủ tục và thời hiệu của đường công nhận và cho thi hành
Điều 432 ấn định thời hiệu 03 năm kể từ ngày bản án nước ngoài có hiệu lực pháp luật để gửi đơn yêu cầu, với thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan được trừ. Đơn yêu cầu theo Điều 433 và giấy tờ kèm theo theo Điều 434 gồm bản chính hoặc bản sao có chứng thực của bản án, văn bản xác nhận bản án đã có hiệu lực và chưa hết thời hiệu thi hành, văn bản xác nhận việc tống đạt hợp lệ cho người phải thi hành, và xác nhận về việc triệu tập hợp lệ nếu bản án được tuyên vắng mặt; tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải kèm bản dịch tiếng Việt được công chứng, chứng thực hợp pháp, và trên thực tế phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định áp dụng. Đơn được gửi đến Bộ Tư pháp hoặc Tòa án có thẩm quyền tùy kênh điều ước, và Điều 435 buộc Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Tòa án trong 05 ngày làm việc khi nhận qua kênh Bộ. Điểm đương sự cần hiểu rõ là khoản 4 Điều 438: Tòa án Việt Nam không xét xử lại vụ án, chỉ kiểm tra, đối chiếu bản án và hồ sơ với các điều kiện của Bộ luật Tố tụng dân sự, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan.
Đường thứ hai: đương nhiên công nhận và ghi chú hộ tịch khi không có yêu cầu thi hành
Nhiều bản án ly hôn nước ngoài chỉ xác lập tình trạng hôn nhân, không kèm nghĩa vụ nào cần thi hành tại Việt Nam. Cho trường hợp này, khoản 2 Điều 431 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài, kể cả từ nước chưa cùng Việt Nam là thành viên điều ước quốc tế, được đương nhiên công nhận tại Việt Nam nếu không có yêu cầu thi hành và không có đơn yêu cầu không công nhận. Đối tác của cơ chế này ở phía hộ tịch là khoản 2 Điều 125 Luật Hôn nhân và gia đình: Chính phủ quy định việc ghi vào sổ hộ tịch các việc về hôn nhân và gia đình theo bản án của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam hoặc không có đơn yêu cầu không công nhận. Trên thực tế, người dân thực hiện thủ tục ghi chú ly hôn tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo pháp luật hộ tịch để tình trạng hôn nhân trên hệ thống dữ liệu của Việt Nam được cập nhật từ đã kết hôn sang đã ly hôn.
Tám trường hợp không công nhận tại Điều 439 và các thời hiệu phản đối
Điều 439 liệt kê các bản án không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, gồm: không đáp ứng điều kiện của điều ước quốc tế liên quan; bản án chưa có hiệu lực theo pháp luật nước đã tuyên án; người phải thi hành vắng mặt do không được triệu tập hợp lệ hoặc không được tống đạt trong thời hạn hợp lý để tự bảo vệ; Tòa án nước ngoài không có thẩm quyền theo Điều 440; vụ việc đã có bản án có hiệu lực của Tòa án Việt Nam, hoặc Tòa án Việt Nam đã thụ lý trước, hoặc đã có bản án của Tòa án nước thứ ba được Việt Nam công nhận; đã hết thời hiệu thi hành án; việc thi hành đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ tại nước tuyên án; và việc công nhận, cho thi hành trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Phía người phải thi hành cũng có công cụ chủ động: Điều 444 cho thời hiệu 03 năm để yêu cầu Tòa án không công nhận bản án có yêu cầu thi hành, còn Điều 447 cho thời hiệu 06 tháng kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu không công nhận đối với bản án không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
Chọn đường nào: một phép thử thực tế
Cách phân định nhanh là tự hỏi bản án có điều khoản nào cần Nhà nước Việt Nam cưỡng chế hoặc xác nhận để thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam hay không. Có chia tài sản là nhà đất tại Việt Nam, có cấp dưỡng phải thu tại Việt Nam, có giao con đang sinh sống tại Việt Nam: đi đường công nhận và cho thi hành theo Điều 423. Chỉ cần tình trạng độc thân được hệ thống Việt Nam ghi nhận để tái hôn hoặc xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: đi đường ghi chú hộ tịch trên nền đương nhiên công nhận theo Điều 431. Hồ sơ ở cả hai đường đều bắt đầu bằng cùng một việc tưởng chừng nhỏ: chuẩn bị bản án đã hợp pháp hóa lãnh sự kèm bản dịch công chứng đầy đủ, vì thiếu một trong hai giấy tờ này là lý do hồ sơ bị trả lại thường gặp nhất.
Trường hợp ly hôn nước ngoài có yếu tố tài sản hoặc con chung tại Việt Nam cần được rà soát riêng; FLAT Law Firm có thể hỗ trợ qua trang liên hệ.
Câu hỏi thường gặp
Bản án ly hôn của tòa án nước ngoài có hiệu lực tại Việt Nam không?
Không tự động có đầy đủ hiệu lực. Nếu bản án có yêu cầu thi hành tại Việt Nam, phải làm thủ tục công nhận và cho thi hành theo Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 1 Điều 125 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; sau khi được công nhận, bản án có hiệu lực như bản án của Tòa án Việt Nam theo Điều 427. Nếu bản án chỉ về hôn nhân và gia đình, không có yêu cầu thi hành và không có đơn yêu cầu không công nhận, bản án được đương nhiên công nhận theo khoản 2 Điều 431.
Thủ tục công nhận bản án ly hôn nước ngoài gồm những bước nào?
Người yêu cầu gửi đơn trong thời hiệu 03 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực (Điều 432), kèm bản chính hoặc bản sao chứng thực bản án, văn bản xác nhận bản án có hiệu lực và chưa hết thời hiệu thi hành, xác nhận tống đạt hợp lệ và triệu tập hợp lệ nếu xét xử vắng mặt (Điều 434); tài liệu tiếng nước ngoài phải dịch ra tiếng Việt, công chứng, chứng thực hợp pháp. Hồ sơ qua Bộ Tư pháp được chuyển cho Tòa án trong 05 ngày làm việc (Điều 435). Tòa án không xét xử lại vụ án mà chỉ kiểm tra điều kiện công nhận (khoản 4 Điều 438).
Trường hợp nào bản án ly hôn nước ngoài không được công nhận?
Theo Điều 439 Bộ luật Tố tụng dân sự, bản án không được công nhận và cho thi hành khi: không đáp ứng điều kiện của điều ước quốc tế liên quan; chưa có hiệu lực tại nước tuyên án; người phải thi hành vắng mặt do không được triệu tập, tống đạt hợp lệ; Tòa án nước ngoài không có thẩm quyền theo Điều 440; vụ việc đã có bản án có hiệu lực của Tòa án Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam đã thụ lý trước, hoặc đã có bản án nước thứ ba được công nhận; đã hết thời hiệu thi hành; việc thi hành đã bị hủy bỏ, đình chỉ tại nước tuyên án; hoặc việc công nhận trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Sau khi được công nhận bản án ly hôn, có cần ghi chú hộ tịch không?
Có, ở góc độ dữ liệu hộ tịch. Việc công nhận theo Bộ luật Tố tụng dân sự cho bản án hiệu lực pháp lý và khả năng thi hành, nhưng tình trạng hôn nhân của công dân trên sổ và cơ sở dữ liệu hộ tịch Việt Nam chỉ được cập nhật khi thực hiện ghi chú việc ly hôn đã được giải quyết ở nước ngoài theo khoản 2 Điều 125 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và quy định của pháp luật hộ tịch. Với bản án không có yêu cầu thi hành, ghi chú hộ tịch chính là thủ tục trung tâm để được cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phục vụ việc tái hôn.
Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng