FLAT LAW FIRM

Lao động

Bảo lãnh nhân sự nước ngoài: trách nhiệm công ty

Ký văn bản bảo lãnh cho chuyên gia nước ngoài không phải thủ tục “đóng dấu cho có”. Pháp luật gắn cho doanh nghiệp bảo lãnh một chuỗi trách nhiệm kéo dài suốt thời gian người đó cư trú tại Việt Nam — và chỉ chấm dứt khi doanh nghiệp chủ động thông báo kết thúc bảo lãnh đúng cách.

Ba nhóm trách nhiệm cốt lõi của đơn vị bảo lãnh

Thứ nhất, bảo lãnh phải đúng mục đích: người nước ngoài được mời, bảo lãnh vào làm việc thì phải làm việc đúng vị trí, đúng thời gian đã khai; doanh nghiệp không được dùng tư cách bảo lãnh để đưa người vào cho mục đích khác. Thứ hai, doanh nghiệp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trong việc quản lý người được bảo lãnh, gồm cả việc bảo đảm nơi cư trú và khai báo tạm trú được thực hiện qua cơ sở lưu trú hoặc trực tiếp với công an địa phương theo quy định.

Thứ ba, và hay bị quên nhất, là nghĩa vụ thông báo: khi người được bảo lãnh vi phạm pháp luật, thay đổi mục đích cư trú, bỏ việc hoặc không còn thuộc diện doanh nghiệp bảo lãnh, doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Nhiều công ty chỉ “báo miệng” cho phòng nhân sự nội bộ mà không có văn bản gửi cơ quan chức năng — khi sự cố xảy ra, họ mới phát hiện trên hồ sơ nhà nước mình vẫn đang là đơn vị bảo lãnh chịu trách nhiệm.

Khi nhân sự bỏ trốn, mất liên lạc hoặc vi phạm

Kịch bản điển hình là chuyên gia tự ý bỏ việc, rời khỏi nơi cư trú và cắt liên lạc trong khi thẻ tạm trú vẫn do doanh nghiệp bảo lãnh. Quy trình xử lý đúng gồm: lập biên bản nội bộ về việc vắng mặt; gửi văn bản thông báo cho Phòng Quản lý xuất nhập cảnh và công an địa phương nơi cư trú về việc người nước ngoài không còn thuộc diện bảo lãnh, đề nghị thu hồi thẻ tạm trú; đồng thời chấm dứt hợp đồng lao động và xử lý giấy phép lao động theo pháp luật lao động. Văn bản thông báo là mốc pháp lý cắt trách nhiệm của doanh nghiệp từ thời điểm cơ quan chức năng nhận được.

Nếu nhân sự vi phạm pháp luật Việt Nam (trật tự công cộng, tệ nạn, hành vi hình sự), doanh nghiệp không chịu trách nhiệm thay về hành vi cá nhân của họ, nhưng có nghĩa vụ hợp tác cung cấp thông tin và không được che giấu, tiếp tay. Việc bao che người được bảo lãnh đang vi phạm có thể biến doanh nghiệp từ “đơn vị liên quan” thành chủ thể bị xử phạt độc lập, chưa kể hệ quả uy tín khi xin bảo lãnh cho nhân sự tiếp theo.

Mức phạt và cách rút bảo lãnh đúng thủ tục

Về tiền phạt, doanh nghiệp đối mặt hai nhóm chế tài song song: vi phạm về bảo lãnh, cư trú bị xử phạt theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP (mức của tổ chức gấp đôi mức cá nhân theo Điều 4); hành vi sử dụng lao động nước ngoài không có giấy phép lao động bị xử phạt theo Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, trong đó mức phạt với người sử dụng lao động tại khoản 5 tăng dần theo số lao động vi phạm — 30 đến 45 triệu đồng với dưới 10 người, tăng lên các bậc cao hơn khi số người lớn hơn. Đây là lý do “cho mượn” tư cách bảo lãnh là việc tuyệt đối không nên làm.

Rút bảo lãnh được thực hiện bằng văn bản gửi cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đã tiếp nhận hồ sơ bảo lãnh, nêu rõ người được bảo lãnh, lý do chấm dứt (hết hợp đồng, chuyển công tác, xuất cảnh hẳn) và đề nghị xử lý giấy tờ cư trú liên quan. Trách nhiệm của doanh nghiệp chấm dứt cho giai đoạn sau khi thông báo có hiệu lực; với thời gian đã bảo lãnh, doanh nghiệp vẫn phải giải trình nếu cơ quan chức năng truy vấn về các vi phạm xảy ra trong giai đoạn đó.

Câu hỏi thường gặp

Công ty bảo lãnh thì chịu trách nhiệm gì?
Ba nhóm trách nhiệm chính: bảo lãnh đúng mục đích đã khai; phối hợp quản lý cư trú, bảo đảm khai báo tạm trú cho người được bảo lãnh; và thông báo cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh khi người đó vi phạm, thay đổi mục đích cư trú hoặc không còn thuộc diện bảo lãnh. Trách nhiệm kéo dài trong toàn bộ thời gian bảo lãnh, không dừng ở ngày ký văn bản.

Nhân sự bỏ trốn?
Doanh nghiệp cần lập biên bản vắng mặt, gửi văn bản thông báo cho Phòng Quản lý xuất nhập cảnh và công an nơi cư trú rằng người nước ngoài không còn thuộc diện bảo lãnh, đề nghị thu hồi thẻ tạm trú, đồng thời chấm dứt hợp đồng và xử lý giấy phép lao động. Văn bản thông báo này là mốc cắt trách nhiệm của công ty; chậm thông báo thì rủi ro vẫn treo trên hồ sơ bảo lãnh.

Mức phạt?
Vi phạm về bảo lãnh và cư trú bị phạt theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP với mức tổ chức gấp đôi cá nhân. Riêng sử dụng lao động nước ngoài không có giấy phép bị phạt theo Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP: với người sử dụng lao động, khoản 5 quy định mức tăng theo số lao động vi phạm, từ 30–45 triệu đồng (dưới 10 người) lên các bậc cao hơn.

Rút bảo lãnh?
Gửi văn bản cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đã nhận hồ sơ bảo lãnh, nêu danh tính người được bảo lãnh, lý do chấm dứt và đề nghị xử lý giấy tờ cư trú. Trách nhiệm chấm dứt cho giai đoạn sau thông báo; giai đoạn đã bảo lãnh, doanh nghiệp vẫn có thể phải giải trình về vi phạm xảy ra trong thời gian đó nếu được yêu cầu.

Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng