FLAT LAW FIRM

Dữ liệu, công nghệ & tuân thủ

Bù trừ tín chỉ carbon tại Việt Nam: hạn mức 30% và thủ tục theo Nghị định 119/2025

Khi một cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính, câu hỏi tài chính đầu tiên thường là: phần phát thải vượt khả năng cắt giảm nội bộ có thể dùng tín chỉ carbon mua bên ngoài để bù trừ bao nhiêu? Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, sửa đổi Nghị định 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, trả lời bằng một con số cứng: không quá 30% lượng hạn ngạch được phân bổ. Trần này biến bù trừ thành công cụ bổ trợ cho giảm phát thải tại nguồn, thay vì lối thoát để mua toàn bộ nghĩa vụ.

Vị trí của bù trừ trong cơ chế hạn ngạch tại Điều 19

Điều 19 của Nghị định 06/2022/NĐ-CP, sau khi được Nghị định 119/2025 sửa đổi, gom toàn bộ vòng đời của hạn ngạch vào một điều: trao đổi trên sàn giao dịch carbon, vay mượn, nộp trả, chuyển giao và bù trừ. Nghĩa vụ trung tâm là nộp trả: đối với mỗi giai đoạn phân bổ, cơ sở phải nộp trả lượng hạn ngạch tối thiểu bằng kết quả kiểm kê khí nhà kính từ các nguồn phát thải trực tiếp trong giai đoạn đó, trừ đi lượng tín chỉ carbon đã bù trừ, và tự thực hiện trên Hệ thống đăng ký quốc gia trước ngày 31/12 của năm kế tiếp giai đoạn được phân bổ. Một đơn vị hạn ngạch tương ứng với quyền phát thải 01 tấn CO2 hoặc 01 tấn CO2 tương đương, và tín chỉ carbon cũng được tính theo cùng đơn vị tấn, nên phép trừ giữa phát thải thực tế, hạn ngạch và tín chỉ là phép trừ trực tiếp trên cùng một thước đo.

Trần 30% và ý nghĩa của mẫu số được phân bổ

Mục 8 của Điều 19 quy định cơ sở có thể sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ không quá 30% lượng hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ của cơ sở. Hai chi tiết trong câu này quyết định cách doanh nghiệp lập kế hoạch. Thứ nhất, mẫu số là hạn ngạch được phân bổ, không phải tổng phát thải kiểm kê: một cơ sở phát thải vượt xa hạn ngạch không thể lấy 30% của con số phát thải lớn hơn làm trần. Thứ hai, trần tính cho mỗi giai đoạn phân bổ, nên chiến lược mua tín chỉ phải được lập theo từng giai đoạn cùng với dự báo sản lượng và hệ số phát thải. Hệ quả quản trị là rõ ràng: tối thiểu 70% nghĩa vụ phải được đáp ứng bằng hạn ngạch nắm giữ, gồm hạn ngạch được phân bổ, hạn ngạch mua thêm trên sàn, hạn ngạch vay mượn hoặc chuyển giao theo các mục khác của Điều 19, và bằng cắt giảm phát thải thực tế để hạ con số kiểm kê.

Tín chỉ nào được dùng để bù trừ

Không phải mọi chứng chỉ mang tên carbon trên thị trường đều được hệ thống chấp nhận. Theo mục 8 Điều 19, tín chỉ được dùng để bù trừ phải là tín chỉ từ dự án thuộc các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon quy định tại Điều 20 của Nghị định 06/2022, và điểm a, điểm b khoản 1 Điều 20a, tức các cơ chế trong nước và cơ chế hợp tác quốc tế mà Việt Nam tham gia. Song song đó, phần quy định về tài sản được trao đổi trên sàn xác định tín chỉ carbon được cấp cho kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính từ ngày 01/01/2021 của các chương trình, dự án thuộc các cơ chế này. Khi mua tín chỉ, doanh nghiệp vì vậy phải thẩm tra ba lớp: dự án thuộc cơ chế nào, tín chỉ có được đăng ký và truy vết được trên hệ thống hay không, và thời điểm tạo ra kết quả giảm nhẹ có nằm trong cửa sổ được chấp nhận hay không. Tín chỉ tự nguyện nước ngoài không qua các cơ chế này không tự động dùng được cho nghĩa vụ nộp trả trong nước.

Thủ tục bù trừ gắn liền với thao tác nộp trả

Bù trừ không phải một thủ tục xin phép riêng. Mục 8 Điều 19 quy định cơ sở sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ tự thực hiện trên Hệ thống đăng ký quốc gia trong quá trình nộp trả. Trình tự vận hành theo đó gồm: hoàn thành kiểm kê khí nhà kính của giai đoạn để chốt lượng phát thải trực tiếp; xác định lượng hạn ngạch cần nộp trả sau khi trừ phần bù trừ dự kiến; mua hoặc nhận chuyển giao tín chỉ hợp lệ qua sàn giao dịch carbon và ghi nhận trên hệ thống; thực hiện thao tác bù trừ và nộp trả trên Hệ thống đăng ký quốc gia trước hạn 31/12 của năm kế tiếp giai đoạn phân bổ. Điều 19 còn cho hai van linh hoạt trong giai đoạn đến hết năm 2030: vay mượn không quá 15% hạn ngạch của giai đoạn kế tiếp của chính cơ sở để bảo đảm nộp trả hiện tại, với điều kiện phần vay mượn không được dùng để trao đổi; và chuyển giao lượng hạn ngạch chưa dùng hết sau khi hoàn thành nộp trả sang giai đoạn kế tiếp.

Không nộp trả đủ: xử phạt và trừ hạn ngạch kỳ sau

Điều 19 quy định cơ sở không thực hiện đầy đủ trách nhiệm nộp trả bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời lượng hạn ngạch nộp trả còn thiếu bị trừ vào hạn ngạch phân bổ của cơ sở cho giai đoạn kế tiếp. Nghĩa vụ vì vậy không biến mất khi quá hạn mà chuyển thành khoản nợ hạn ngạch đè lên giai đoạn sau, cộng với rủi ro xử phạt độc lập. Ngoài ra, sau 30 ngày kể từ thời hạn nộp trả, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hủy bỏ số hạn ngạch của các giai đoạn trước không được chuyển giao hoặc nộp trả trên hệ thống và cập nhật dữ liệu cho đơn vị vận hành sàn. Doanh nghiệp có nguy cơ thiếu hạn ngạch nên hành động sớm trong cửa sổ nộp trả: mua bổ sung hạn ngạch trên sàn khi thanh khoản còn tốt rẻ hơn nhiều so với việc gánh khoản trừ vào giai đoạn kế tiếp kèm xử phạt.

Doanh nghiệp thuộc diện phân bổ hạn ngạch cần xây dựng chiến lược bù trừ theo từng giai đoạn có thể trao đổi với FLAT Law Firm qua trang liên hệ.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp được bù trừ tối đa bao nhiêu phần trăm hạn ngạch bằng tín chỉ carbon?

Theo mục 8 Điều 19 Nghị định 06/2022/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP), cơ sở có thể sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ không quá 30% lượng hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ của cơ sở. Mẫu số là hạn ngạch được phân bổ, không phải tổng phát thải kiểm kê, và trần được tính cho từng giai đoạn phân bổ.

Tín chỉ carbon nào được dùng để bù trừ theo Nghị định 119/2025?

Tín chỉ phải xuất phát từ dự án thuộc các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon quy định tại Điều 20 Nghị định 06/2022/NĐ-CP và điểm a, điểm b khoản 1 Điều 20a của nghị định này, và là tín chỉ được cấp cho kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính từ ngày 01/01/2021. Tín chỉ ngoài các cơ chế này không tự động được chấp nhận cho nghĩa vụ nộp trả hạn ngạch trong nước.

Thủ tục bù trừ tín chỉ carbon thực hiện như thế nào?

Bù trừ không phải thủ tục xin phép riêng: theo mục 8 Điều 19, cơ sở tự thực hiện việc sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ trên Hệ thống đăng ký quốc gia trong quá trình nộp trả. Các bước vận hành gồm chốt kết quả kiểm kê phát thải trực tiếp của giai đoạn, xác định lượng phải nộp trả sau bù trừ, mua hoặc nhận chuyển giao tín chỉ hợp lệ qua sàn giao dịch carbon, rồi thực hiện bù trừ và nộp trả trên hệ thống trước ngày 31/12 của năm kế tiếp giai đoạn được phân bổ.

Không bù trừ đủ phát thải thì doanh nghiệp bị xử lý ra sao?

Câu hỏi đúng theo văn bản là không nộp trả đủ hạn ngạch sau khi đã dùng bù trừ trong trần 30%. Theo Điều 19 Nghị định 06/2022 (sửa đổi bởi Nghị định 119/2025), cơ sở không thực hiện đầy đủ trách nhiệm nộp trả bị xử phạt theo pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời lượng hạn ngạch nộp trả còn thiếu bị trừ vào hạn ngạch phân bổ của giai đoạn kế tiếp.

Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng