FLAT LAW FIRM

Dữ liệu, công nghệ & tuân thủ

Xử phạt vi phạm hành chính trong chăn nuôi theo Nghị định 211/2026/NĐ-CP

Ngày 16/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 211/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi, có hiệu lực từ ngày 05/8/2026. Khác với nhiều văn bản được giới thiệu trong các đợt nội dung gần đây, nghị định này đã có hiệu lực tại thời điểm bài viết (tháng 10/2026), nên mọi mức phạt dưới đây là khung đang áp dụng cho hành vi vi phạm hiện nay. Nghị định này cũng là căn cứ xử phạt chuyên ngành đầu tiên được ban hành đồng bộ cho Luật Chăn nuôi, bao quát từ giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, điều kiện chăn nuôi đến sản phẩm xử lý chất thải.

Quy ước mức phạt của chính Nghị định 211/2026: cá nhân là gốc, tổ chức gấp đôi

Điểm phải đọc trước mọi bảng mức phạt là quy ước cơ sở nằm trong phần quy định chung của chính nghị định này: mức phạt tiền quy định đối với từng hành vi là mức áp dụng cho cá nhân, và tổ chức thực hiện cùng một hành vi bị phạt gấp 02 lần mức của cá nhân. Trần phạt tiền tối đa trong lĩnh vực chăn nuôi theo nghị định là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức. Về thời hiệu, thời hiệu xử phạt chung là 01 năm, nhưng nhóm hành vi về kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi và sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi chịu thời hiệu 02 năm, dài hơn hẳn vì đây là các hành vi có chuỗi lưu thông hàng hóa cần thời gian truy vết. Ngoài phạt tiền là hình thức chính cùng cảnh cáo, nghị định còn áp dụng hình thức bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động, tịch thu tang vật, và một danh mục dài biện pháp khắc phục hậu quả.

Các nhóm hành vi bị xử phạt và khung phạt đại diện

Nhóm giống vật nuôi gồm các hành vi khai thác, mua bán, xuất khẩu nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm trái quy định, nhập khẩu giống không bảo đảm chất lượng, với mức phạt phổ biến từ 5 triệu đến 50 triệu đồng, kèm tịch thu tang vật và buộc nộp lại giá trị tang vật đã tiêu thụ, tẩu tán trong trường hợp nghiêm trọng. Nhóm thức ăn chăn nuôi có biên độ rộng nhất, từ 3 triệu đến 100 triệu đồng, vì nó trải từ lỗi ghi nhãn, công bố thông tin đến lỗi chất lượng và chất cấm. Nhóm điều kiện chăn nuôi và xử lý chất thải, gồm không bảo đảm khoảng cách an toàn, chăn nuôi tại khu vực không được phép, không xử lý chất thải đúng quy định, bị phạt từ 1 triệu đến 30 triệu đồng, kèm các biện pháp như buộc di dời vật nuôi hoặc cơ sở, buộc giảm quy mô cho phù hợp khoảng cách, buộc khắc phục ô nhiễm. Riêng hành vi không thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi bị phạt 3 đến 5 triệu đồng, kê khai gian dối nhằm trục lợi bị phạt 5 đến 10 triệu đồng.

Chất cấm trong thức ăn chăn nuôi: nhóm bị siết mạnh nhất

Nghị định dành thang phạt cao nhất cho hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi. Hành vi sử dụng mỗi chất cấm bị phạt 50 đến 60 triệu đồng khi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu hành vi đã đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cơ quan tố tụng quyết định không khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo bản án thì mức phạt là 70 đến 80 triệu đồng. Hành vi sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chứa chất cấm bị phạt 60 đến 80 triệu đồng khi tổng giá trị sản phẩm vi phạm dưới 100 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính dưới 50 triệu đồng, và 80 đến 100 triệu đồng khi vượt các mốc đó mà không bị xử lý hình sự, kèm đình chỉ hoạt động sản xuất, mua bán, nhập khẩu từ 3 đến 6 tháng và buộc tiêu hủy sản phẩm. Ở nhóm điều kiện sản xuất, sản xuất thức ăn chăn nuôi khi chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất bị phạt 30 đến 35 triệu đồng; sản phẩm chưa được công bố thông tin trên cổng thông tin của Bộ Nông nghiệp và Môi trường bị phạt 10 đến 15 triệu đồng và có thể bị đình chỉ 1 đến 3 tháng.

Trang trại không có giấy phép môi trường: hai lớp xử phạt cần phân biệt

Câu hỏi này thường bị trả lời gộp một cách thiếu chính xác. Lớp thứ nhất thuộc Nghị định 211/2026: trang trại vi phạm điều kiện chăn nuôi và nghĩa vụ xử lý chất thải chăn nuôi, như không có hệ thống xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu, xả thải không đúng quy định trong hoạt động chăn nuôi, chăn nuôi tại khu vực cấm hoặc không bảo đảm khoảng cách, bị phạt trong khung 1 đến 30 triệu đồng của nhóm điều kiện chăn nuôi kèm biện pháp khắc phục như di dời, giảm quy mô, khắc phục ô nhiễm. Lớp thứ hai là giấy phép môi trường với tư cách một giấy phép độc lập theo Luật Bảo vệ môi trường: dự án chăn nuôi thuộc diện phải có giấy phép môi trường mà hoạt động không có giấy phép sẽ bị xử phạt theo khung xử phạt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, với mức phạt phụ thuộc loại dự án và thẩm quyền cấp phép, tách khỏi Nghị định 211/2026. Một trang trại thiếu giấy phép môi trường vì vậy có thể đồng thời đối mặt cả hai lớp: bị xử lý về điều kiện và chất thải chăn nuôi theo Nghị định 211/2026, và bị xử lý về hành vi hoạt động không có giấy phép môi trường theo pháp luật môi trường. Gắn một con số phạt duy nhất của Nghị định 211/2026 cho hành vi thiếu giấy phép môi trường là cách trích dẫn sai văn bản.

Thẩm quyền xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

Thẩm quyền xử phạt theo nghị định thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về chăn nuôi và thú y, cùng các lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan trong phạm vi nhiệm vụ của mình, đặc biệt với hàng hóa giống và thức ăn chăn nuôi xuất nhập khẩu qua biên giới. Danh mục biện pháp khắc phục hậu quả phản ánh đúng tính chất ngành: buộc tái chế hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng sản phẩm, buộc sửa đổi thông tin nhãn, buộc di dời vật nuôi và trang trại khỏi khu vực không được phép, buộc giảm quy mô chăn nuôi cho phù hợp khoảng cách, buộc thu hồi, tiêu hủy sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp và buộc nộp lại các giấy chứng nhận bị tẩy xóa, sửa chữa. Với trang trại đang vận hành, rủi ro tài chính lớn nhất thường không nằm ở tiền phạt mà ở biện pháp di dời và đình chỉ, nên việc tự rà soát điều kiện chăn nuôi, khoảng cách và hồ sơ xử lý chất thải nên được làm trước bất kỳ đợt kiểm tra nào.

Trang trại hoặc doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi cần đối chiếu hoạt động của mình với khung phạt mới có thể trao đổi với FLAT Law Firm qua trang liên hệ.

Câu hỏi thường gặp

Nghị định 211/2026/NĐ-CP xử phạt những hành vi nào trong chăn nuôi?

Nghị định 211/2026/NĐ-CP (hiệu lực 05/8/2026) xử phạt các nhóm hành vi: vi phạm về giống vật nuôi và nguồn gen giống vật nuôi (phạt phổ biến 5–50 triệu đồng); vi phạm về thức ăn chăn nuôi gồm điều kiện sản xuất, chất lượng, ghi nhãn, công bố thông tin và chất cấm (3–100 triệu đồng); vi phạm về điều kiện chăn nuôi và xử lý chất thải như khoảng cách an toàn, chăn nuôi nơi cấm, không xử lý chất thải đúng quy định (1–30 triệu đồng); vi phạm về kê khai hoạt động chăn nuôi và về hành nghề trong lĩnh vực chăn nuôi. Kèm theo là hình thức bổ sung như đình chỉ hoạt động, tước giấy phép và biện pháp khắc phục như thu hồi, tiêu hủy sản phẩm, di dời cơ sở.

Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực chăn nuôi là bao nhiêu?

Theo quy định chung của Nghị định 211/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền nêu tại các điều là mức đối với cá nhân và tổ chức bị phạt gấp 02 lần khi thực hiện cùng hành vi. Trần phạt tiền tối đa trong lĩnh vực chăn nuôi là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức. Ví dụ, hành vi sản xuất thức ăn chăn nuôi chứa chất cấm ở khung cao nhất là 80–100 triệu đồng đối với cá nhân, tương ứng 160–200 triệu đồng đối với tổ chức.

Trang trại chăn nuôi không có giấy phép môi trường bị phạt thế nào?

Cần tách hai lớp. Theo Nghị định 211/2026/NĐ-CP, vi phạm điều kiện chăn nuôi và nghĩa vụ xử lý chất thải chăn nuôi (không có hệ thống xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu, chăn nuôi tại khu vực cấm, không bảo đảm khoảng cách) bị phạt trong khung 1–30 triệu đồng kèm biện pháp khắc phục như di dời, giảm quy mô, khắc phục ô nhiễm. Riêng hành vi hoạt động không có giấy phép môi trường là hành vi thuộc khung pháp luật bảo vệ môi trường, bị xử phạt theo quy định xử phạt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với mức phạt tùy loại dự án và thẩm quyền cấp phép, không nằm trong Nghị định 211/2026.

Ai có thẩm quyền xử phạt vi phạm trong chăn nuôi?

Theo Nghị định 211/2026/NĐ-CP, thẩm quyền xử phạt thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về chăn nuôi và thú y; và các lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan trong phạm vi nhiệm vụ, nhất là với giống vật nuôi và thức ăn chăn nuôi xuất nhập khẩu. Mỗi chủ thể chỉ được phạt trong trần thẩm quyền của mình, vụ việc vượt trần phải chuyển cấp có thẩm quyền cao hơn.

Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng