Khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người nước ngoài, câu hỏi đặt ra là: họ cần loại thị thực và thẻ tạm trú nào? Chức danh “người đại diện theo pháp luật” không tự động quyết định diện visa — pháp luật xét theo vai trò thực tế của người đó. Bài viết phân tích từng trường hợp.
1. Yêu cầu cư trú đối với người đại diện theo pháp luật
Khoản 3 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 59/2020 (được bổ sung bởi Luật 76/2025/QH15, hiệu lực từ 01/7/2025) quy định doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Khi chỉ còn một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam mà người này xuất cảnh khỏi Việt Nam thì phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
2. Chức danh không tự động miễn giấy phép lao động
Việc mang chức danh người đại diện theo pháp luật không tự động miễn giấy phép lao động. Thị thực và thẻ tạm trú được xét theo vai trò thực tế (Nghị định 219/2025/NĐ-CP), với các trường hợp sau:
2.1. Là nhà đầu tư hoặc người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại Việt Nam
Trường hợp này được cấp thị thực diện ĐT theo mức vốn góp (khoản 7a–7d Điều 8 văn bản hợp nhất 62/VBHN-VPQH: ĐT1 từ 100 tỷ đồng trở lên; ĐT2 từ 50 tỷ đến dưới 100 tỷ đồng; ĐT3 từ 3 tỷ đến dưới 50 tỷ đồng; ĐT4 dưới 3 tỷ đồng), và được cấp thẻ tạm trú ĐT1/ĐT2/ĐT3 (điểm b khoản 1 Điều 36; ĐT4 không thuộc diện được cấp thẻ tạm trú).
Về giấy phép lao động: miễn giấy phép lao động nếu là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn góp từ 3 tỷ đồng trở lên (khoản 2 Điều 7 Nghị định 219/2025/NĐ-CP), hoặc là Chủ tịch/thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần có vốn góp từ 3 tỷ đồng trở lên (khoản 3 Điều 7). Người thuộc diện miễn không phải làm thủ tục xác nhận miễn giấy phép lao động nhưng phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền trước ít nhất 3 ngày làm việc (khoản 4 Điều 9).
Người đại diện theo pháp luật đồng thời là chủ sở hữu vốn dưới 3 tỷ đồng → không thuộc diện miễn → phải xin giấy phép lao động như người lao động được thuê.
Người vừa là nhà đầu tư vừa trực tiếp điều hành doanh nghiệp: ưu tiên áp diện ĐT (gắn với tư cách nhà đầu tư), không phải “chọn diện nào cũng được”.
2.2. Được thuê làm người đại diện theo pháp luật (không phải nhà đầu tư)
Ví dụ Tổng Giám đốc được thuê, không góp vốn: người này là người lao động nước ngoài → phải có giấy phép lao động (điểm c khoản 4 Điều 10 văn bản hợp nhất 62; Điều 151 Bộ luật Lao động 2019; Nghị định 219/2025/NĐ-CP) → thị thực LĐ2 (khoản 16a Điều 8) → thẻ tạm trú LĐ2, thời hạn không quá 2 năm (khoản 5 Điều 38).
2.3. Miễn giấy phép lao động nhưng không phải nhà đầu tư
Các trường hợp miễn giấy phép lao động khác (ví dụ kết hôn với người Việt Nam, điều chuyển nội bộ doanh nghiệp…) → thị thực LĐ1 → thẻ tạm trú LĐ1.
3. Thị thực DN1 chỉ phù hợp lưu trú ngắn hạn
Thị thực DN1 (làm việc với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân — khoản 8 Điều 8, thời hạn không quá 1 năm) chỉ phù hợp cho các chuyến công tác ngắn hạn. DN1 không thuộc diện được cấp thẻ tạm trú (Điều 36 không liệt kê ký hiệu DN). Người đại diện theo pháp luật thường trú ở nước ngoài, chỉ sang Việt Nam công tác từng chuyến: dùng thị thực DN1/LĐ phù hợp từng chuyến — phân biệt rõ với trường hợp cư trú dài hạn cần thẻ tạm trú.
4. Chuyển đổi mục đích thị thực
Người đang có thị thực diện khác mà có giấy tờ chứng minh là nhà đầu tư (điểm a khoản 4 Điều 7 văn bản hợp nhất 62) hoặc có giấy phép lao động/giấy xác nhận miễn giấy phép lao động (điểm c) → được chuyển đổi mục đích thị thực sang diện ĐT hoặc LĐ tương ứng.
5. Thời hạn thị thực và thẻ tạm trú (tham khảo)
Thời hạn thị thực (Điều 9 văn bản hợp nhất 62): LĐ1/LĐ2 không quá 2 năm; ĐT3 không quá 3 năm; ĐT1/ĐT2 không quá 5 năm; DN1 không quá 1 năm. Thời hạn thẻ tạm trú: ĐT1 không quá 10 năm; ĐT2 không quá 5 năm; ĐT3 không quá 3 năm; LĐ2 không quá 2 năm. Thời hạn giấy phép lao động tối đa 2 năm (Điều 21 Nghị định 219/2025/NĐ-CP).
Thông tin tham khảo, không phải tư vấn pháp lý.
Người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài và cần xác định đúng diện visa, thẻ tạm trú? Liên hệ FLAT Law Firm để được tư vấn.
Thông tin mang tính tham khảo, không phải tư vấn pháp lý. Nội dung do AI Legal Council kiểm tra chất lượng, chưa được luật sư người thật duyệt.
