FLAT LAW FIRM

Pháp lý doanh nghiệp

Hợp đồng vay tài sản trong dân sự tại Việt Nam: lãi suất, hiệu lực và rủi ro

Cho người quen vay 300 triệu đồng bằng một tờ giấy viết tay, cho đối tác làm ăn mượn tiền quay vòng với lãi thỏa thuận miệng, hay ứng tiền cho người thân kèm cam kết trả dần: tất cả đều là hợp đồng vay tài sản trong dân sự, loại giao dịch được Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 điều chỉnh tại các Điều 463 đến 471. Khác với hợp đồng tín dụng ngân hàng vốn có mẫu biểu và quy trình thẩm định chặt, hợp đồng vay dân sự giữa cá nhân với nhau thường chỉ có vài dòng giấy, và chính sự đơn sơ đó làm phát sinh ba nhóm rủi ro lặp đi lặp lại trong các vụ kiện đòi nợ: lãi suất thỏa thuận vượt trần luật định, không chứng minh được việc giao tiền, và để quá thời hiệu khởi kiện. Bài viết này phân tích lần lượt khung lãi suất, hiệu lực của thỏa thuận, yêu cầu hình thức và thời hiệu theo đúng các điều khoản của Bộ luật Dân sự 2015.

Trần lãi suất 20%/năm tại Điều 468 và số phận của phần lãi vượt trần

Điều 468 của Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 cho phép các bên tự thỏa thuận lãi suất vay, nhưng chốt một giới hạn cứng: lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác, như trần lãi suất riêng trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Hệ quả pháp lý của việc vượt trần nằm ngay tại khoản 1 của điều này: trường hợp lãi suất thỏa thuận vượt quá giới hạn thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Điều đó có nghĩa là hợp đồng vay không bị vô hiệu toàn bộ, bên vay vẫn phải trả gốc và phần lãi trong trần 20%, còn phần lãi vượt trần bị cắt bỏ khi tòa án giải quyết, kể cả khi bên vay đã tự nguyện trả phần lãi đó trong một số kỳ trước khi tranh chấp nổ ra. Nếu hợp đồng không ghi rõ lãi suất mà các bên tranh chấp về việc có lãi hay không, luật ấn định mức 50% của giới hạn trần, tức 10%/năm, áp cho khoản vay có thời hạn khi đến hạn bên vay không trả; còn với khoản vay có lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp, mức ấn định tương tự cũng được tòa án sử dụng làm căn cứ tính.

Lãi trên nợ gốc quá hạn là tầng tính toán thứ hai hay bị các bên tự thỏa thuận sai. Theo Điều 468, khi đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, bên cho vay được tính lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tương ứng thời gian chậm trả, và riêng phần nợ gốc quá hạn chưa trả thì chịu lãi bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng thời gian quá hạn. Với khoản vay không có lãi mà chậm trả, lãi chậm trả tính theo mức ấn định 10%/năm trên số tiền chậm trả. Trên thực tế, nhiều giấy vay tự soạn ghi một mức phạt chung chung kiểu mỗi tháng chậm trả phạt 5%, tương đương 60%/năm, mà không biết rằng khi ra tòa, toàn bộ kiến trúc lãi và phạt đó sẽ bị chuẩn hóa lại về khung của Điều 468, phần vượt chuẩn bị loại bỏ. Viết đúng khung ngay từ khi soạn giấy vay vì thế không phải chuyện hình thức, nó quyết định số tiền thật sự thu hồi được sau vài năm kiện tụng.

Hình thức hợp đồng: không bắt buộc công chứng, nhưng bằng chứng giao tiền mới là tử huyệt

Bộ luật Dân sự 2015 không bắt buộc hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân phải lập thành văn bản hay công chứng mới có hiệu lực; thỏa thuận miệng về nguyên tắc vẫn là một hợp đồng hợp lệ nếu các bên có năng lực hành vi và nội dung không vi phạm điều cấm. Tuy nhiên, hiệu lực trên lý thuyết khác xa khả năng thắng kiện trên thực tế, vì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người khởi kiện: bên cho vay phải chứng minh đã giao tiền cho bên vay và hai bên có thỏa thuận vay. Giấy vay viết tay có chữ ký của bên vay, ghi rõ số tiền bằng số và bằng chữ, ngày vay, lãi suất, thời hạn trả và phương thức trả, là chứng cứ gốc có sức nặng nhất; chuyển khoản ngân hàng với nội dung ghi cho vay càng làm bộ chứng cứ khép kín, vì nó khóa đồng thời cả số tiền lẫn ngày giao nhận. Ngược lại, giấy biên nhận ghi chung chung đã nhận đủ tiền mà không nêu quan hệ vay, hay tin nhắn trao đổi rời rạc về tiền bạc, thường bị bên vay phản tố thành quan hệ đầu tư, góp vốn hoặc tặng cho, buộc bên cho vay phải chứng minh lại bản chất khoản tiền từ đầu.

Công chứng hợp đồng vay tiền là lựa chọn tự nguyện nhưng đáng cân nhắc với khoản vay lớn hoặc vay có tài sản đi kèm: văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cao, nội dung đã được công chứng viên kiểm tra năng lực và ý chí của các bên, và trong một số trường hợp văn bản công chứng còn là cơ sở để yêu cầu thi hành theo thủ tục rút gọn. Nếu giao dịch vay gắn với thế chấp quyền sử dụng đất hoặc nhà ở thì phần thế chấp, tách khỏi phần vay, bắt buộc phải công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm mới phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Một lưu ý khác là chủ thể cho vay: cá nhân cho vay tiền không phải hoạt động ngân hàng và được phép ở quy mô giao dịch dân sự, nhưng cho vay thường xuyên như một nghề với lãi suất cao sẽ chạm vào các quy định về hoạt động tín dụng và, ở mức lãi suất cực đoan, chạm vào tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự khi lãi suất đạt từ năm lần mức trần dân sự trở lên kèm yếu tố thu lợi bất chính theo ngưỡng luật định.

Hiệu lực hợp đồng và các lỗi làm thỏa thuận vay mất giá trị

Một hợp đồng vay tài sản có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện chung tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự 2015: chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi phù hợp, các bên hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Các lỗi hiệu lực hay gặp trong vay dân sự gồm: bên vay là người chưa thành niên hoặc bị hạn chế năng lực mà không có người đại diện đồng ý; giấy vay được ký trong tình trạng bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; và nội dung vay nhằm che giấu một giao dịch khác, chẳng hạn giấy vay giả tạo để hợp thức hóa việc chuyển nhượng tài sản trốn tránh nghĩa vụ với chủ nợ thứ ba, trường hợp này giao dịch giả tạo bị tuyên vô hiệu và giao dịch bị che giấu được xem xét theo bản chất thật. Riêng yếu tố lãi suất vượt trần, như đã phân tích, không làm vô hiệu toàn bộ hợp đồng mà chỉ làm phần lãi vượt trần không có hiệu lực theo khoản 1 Điều 468, một cơ chế vô hiệu từng phần mà nhiều người đi vay hiểu sai thành được miễn trả toàn bộ gốc lẫn lãi.

Khoản vay bằng ngoại tệ hoặc vàng giữa các cá nhân cư trú tại Việt Nam là một vùng rủi ro hiệu lực riêng: pháp luật ngoại hối hạn chế việc sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán và định giá trong lãnh thổ Việt Nam, và trên thực tế nhiều giấy vay ghi số tiền bằng đô la Mỹ đã bị tòa án chuyển đổi sang đồng Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán hoặc thời điểm xét xử, tạo ra chênh lệch lớn so với kỳ vọng của bên cho vay khi tỷ giá biến động. Khoản vay bằng vàng còn vướng thêm quy định quản lý thị trường vàng và hoạt động kinh doanh vàng. Cách soạn an toàn trong thực hành là ghi số tiền vay bằng đồng Việt Nam, có thể kèm điều khoản tham chiếu quy đổi minh bạch ngay tại thời điểm giao tiền, và mọi lần trả nợ từng phần đều được ghi nhận bằng biên nhận riêng để tránh tranh cãi về số dư gốc khi kết thúc giao dịch.

Thời hiệu khởi kiện đòi nợ: 03 năm theo Điều 429 và cách không để mất quyền

Điều 429 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Với hợp đồng vay có kỳ hạn, mốc này thông thường là ngày đến hạn trả nợ mà bên vay không trả: trước thời điểm đó, quyền yêu cầu chưa bị xâm phạm nên đồng hồ thời hiệu chưa chạy, dù tiền đã cho vay từ nhiều năm trước. Với khoản vay không kỳ hạn theo Điều 469, bên cho vay phải thông báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý mới được đòi, và thời hiệu được tính từ khi hết thời gian thông báo mà bên vay vẫn không trả. Người đi vay hay đánh giá thấp tác động của điều khoản này vì cho rằng nợ tiền thì lúc nào kiện cũng được; thực tế khi thời hiệu đã hết mà bên vay có yêu cầu áp dụng thời hiệu, tòa án sẽ đình chỉ giải quyết và khoản nợ trên thực tế trở nên không thể thu hồi bằng con đường tố tụng.

Pháp luật vẫn để lại các cơ chế bảo vệ bên cho vay lơ là: thời hiệu bắt đầu lại khi bên vay thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, thực hiện một phần nghĩa vụ như trả thêm một khoản gốc hay lãi sau ngày quá hạn, hoặc khi các bên cùng yêu cầu hòa giải theo thủ tục luật định. Vì vậy, một biên nhận trả lãi nhỏ ký sau ngày đến hạn, hay một tin nhắn xác nhận nợ có thể quy chiếu rõ ràng, đôi khi có giá trị cứu cả khoản vay lớn khỏi án tử thời hiệu, với điều kiện chứng cứ đó thể hiện được ý chí thừa nhận nợ của chính bên vay. Ở chiều ngược lại, bên cho vay nên gửi yêu cầu trả nợ bằng văn bản có xác nhận phát thành công trước khi thời hiệu sắp hết, và tuyệt đối không để việc thương lượng kéo dài qua mốc 03 năm mà không có một văn bản xác nhận nợ mới; lịch nhắc thời hiệu là một phần của quản trị khoản vay dân sự nghiêm túc, ngang hàng với việc giữ bản gốc giấy vay.

Câu hỏi thường gặp

Lãi suất cho vay trong hợp đồng vay tài sản dân sự tối đa là bao nhiêu?

Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13, lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Nếu hợp đồng không ghi rõ lãi suất và có tranh chấp về việc có lãi hay không, mức ấn định là 50% giới hạn trần, tức 10%/năm, cho khoản vay đến hạn không được trả.

Hợp đồng vay tài sản có bắt buộc lập thành văn bản hoặc công chứng không?

Không bắt buộc. Bộ luật Dân sự 2015 không yêu cầu hợp đồng vay tài sản giữa cá nhân phải lập văn bản hoặc công chứng mới có hiệu lực. Tuy nhiên, bên cho vay khi khởi kiện phải chứng minh việc giao tiền và thỏa thuận vay, nên giấy vay viết tay có chữ ký bên vay kèm chứng từ chuyển khoản là lớp chứng cứ an toàn nhất. Riêng phần thế chấp đất, nhà ở đi kèm khoản vay thì bắt buộc công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm.

Lãi suất vượt trần quy định thì phần vượt quá xử lý thế nào?

Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, mức lãi suất vượt quá giới hạn 20%/năm không có hiệu lực, nhưng hợp đồng vay vẫn hiệu lực ở phần còn lại: bên vay vẫn trả gốc và lãi trong trần. Khi có tranh chấp, tòa án cắt bỏ phần lãi vượt trần khi tính số tiền phải trả. Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả tính bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng thời gian quá hạn, cũng trong khung chuẩn hóa của Điều 468.

Thời hiệu khởi kiện đòi nợ theo hợp đồng vay là bao lâu?

Thời hiệu là 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, tính từ ngày bên cho vay biết hoặc phải biết quyền bị xâm phạm, với vay có kỳ hạn thường là ngày đến hạn mà bên vay không trả. Thời hiệu bắt đầu lại nếu bên vay thừa nhận nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ sau khi quá hạn. Hết thời hiệu mà bên vay yêu cầu áp dụng thời hiệu thì tòa án đình chỉ giải quyết, khoản nợ không còn thu hồi được qua tố tụng.

Bài viết liên quan