Việt Nam có 81 hiệp định tránh đánh thuế hai lần đang hiệu lực — một trong những mạng lưới rộng nhất khu vực. Nhưng giá trị thực của mạng lưới này đang thay đổi theo hướng siết điều kiện hưởng lợi: Công ước đa phương MLI đưa điều khoản kiểm tra mục đích chính (PPT) vào các hiệp định, và Thông tư 95/2026/TT-BTC, hiệu lực từ 01/7/2026 thay thế Thông tư 205/2013/TT-BTC, viết lại quy tắc xác định người hưởng lợi thực sự tại Việt Nam. Nhà đầu tư đang hưởng lợi qua cấu trúc trung gian cần hiểu mình đang đứng trên nền điều kiện nào.
Bản đồ thay đổi: hiệp định mới, sửa đổi và lớp chống lạm dụng
Thay đổi lớn nhất của giai đoạn này không nằm ở số lượng hiệp định mới ký — mạng lưới 81 hiệp định đã tương đối hoàn chỉnh và các đàm phán mới chủ yếu là sửa đổi, bổ sung nghị định thư cho các hiệp định hiện hữu — mà nằm ở lớp điều khoản chống lạm dụng được phủ lên toàn mạng lưới. Qua Công ước đa phương MLI mà Việt Nam đã ký kết, điều khoản PPT được đưa vào các hiệp định thuộc diện áp dụng: cơ quan thuế có quyền từ chối lợi ích hiệp định nếu việc sắp xếp giao dịch có một trong các mục đích chính là đạt được lợi ích đó. PPT không cần doanh nghiệp “gian lận” mới áp dụng được — nó chỉ cần mục đích thuế là một trong các mục đích chính của cấu trúc.
Ở tầng nội địa, Thông tư 95/2026/TT-BTC quy định thủ tục áp dụng hiệp định, trong đó Điều 10 về xác định người hưởng lợi thực sự (beneficial owner) là công cụ lọc chính với các khoản cổ tức, lãi vay, bản quyền nhận qua đơn vị trung gian: đơn vị nhận thu nhập chỉ là ống dẫn (conduit) — không có quyền quyết định sử dụng thu nhập, có nghĩa vụ chuyển tiếp gần như toàn bộ, không có hoạt động và rủi ro thực chất — sẽ không được công nhận là người hưởng lợi thực sự và mất lợi ích thuế suất hiệp định. Điều khoản giới hạn lợi ích (LOB) theo kiểu liệt kê điều kiện chi tiết ít xuất hiện trong các hiệp định của Việt Nam; công cụ chủ đạo là PPT cộng kiểm tra hưởng lợi thực sự, và nhà đầu tư nên rà soát cấu trúc của mình theo đúng hai công cụ đó thay vì theo mẫu LOB của các nước khác.
Tác động lên thuế suất cổ tức, lãi vay, bản quyền
Khi lợi ích hiệp định bị từ chối qua PPT hoặc kiểm tra hưởng lợi thực sự, khoản thu nhập quay về chịu khung trong nước: cổ tức của tổ chức nước ngoài nhận từ Việt Nam hiện không bị khấu trừ trong nước (khác biệt cần lưu ý: lợi thế hiệp định với cổ tức tại Việt Nam chủ yếu nằm ở phía nước nhận và cơ chế khấu trừ thuế đã nộp, không phải thuế suất tại nguồn của Việt Nam), trong khi lãi tiền vay và tiền bản quyền là hai khoản mà thuế suất trần của hiệp định thực sự tạo chênh lệch so với tỷ lệ trong nước theo Nghị định 320/2025/NĐ-CP (bản quyền 10%, lãi vay 5% trên doanh thu tính thuế nhà thầu). Nói cách khác, cấu trúc trung gian được dựng để hưởng lợi trên lãi vay và bản quyền là cấu trúc chịu rủi ro siết chặt lớn nhất trong giai đoạn này.
Một lỗi rà soát phổ biến là kiểm tra hiệp định tại thời điểm đầu tư ban đầu rồi đóng hồ sơ vĩnh viễn. Mạng lưới hiệp định thay đổi theo cả hai chiều: nghị định thư sửa đổi nâng hoặc hạ thuế suất trần, và lớp chống lạm dụng làm thay đổi điều kiện hưởng lợi mà không đổi một con số thuế suất nào. Cấu trúc hợp lệ năm 2020 có thể không còn hợp lệ năm 2027 dù thuế suất trên giấy không đổi.
Rà soát cấu trúc qua nước trung gian: danh mục kiểm tra
Một đợt rà soát cấu trúc trung gian đạt chuẩn gồm năm kiểm tra: tồn tại và tình trạng hiệu lực của hiệp định với nước trung gian và với nước của nhà đầu tư cuối cùng (gồm việc hiệp định đã được MLI bao phủ ở mức nào); chất lượng hưởng lợi thực sự của đơn vị trung gian theo tiêu chí Điều 10 Thông tư 95/2026/TT-BTC (quyền quyết định với thu nhập, tỷ lệ chuyển tiếp, hiện diện nhân sự, tài sản và rủi ro thật); hồ sơ mục đích kinh doanh của cấu trúc ngoài mục đích thuế (được lập tại thời điểm dựng cấu trúc, không phải viết lại khi bị hỏi); tính nhất quán giữa cấu trúc thuế và dòng tiền, hợp đồng thực tế; và kế hoạch dự phòng khi lợi ích hiệp định bị từ chối (gross-up, tái cấu trúc về đầu tư trực tiếp hoặc qua nước có hiệp định vững hơn).
Điểm quyết định là thứ tự thời gian: bản chất kinh tế phải tồn tại trước khi cơ quan thuế hỏi, không thể bổ sung hồi tố. Doanh nghiệp có cấu trúc trung gian “mỏng” nên đầu tư vào việc làm dày bản chất ngay (nhân sự quyết định thật, hoạt động quản trị thật tại nước trung gian) hoặc chủ động đơn giản hoá cấu trúc về dạng trực tiếp — chi phí của cả hai lựa chọn đều nhỏ hơn chi phí bị từ chối lợi ích hiệp định trên toàn bộ các khoản thanh toán tích lũy nhiều năm.
Câu hỏi thường gặp
1. Hiệp định nào đang được đàm phán mới hoặc sửa đổi?
Thay đổi chính không phải số hiệp định mới mà là lớp chống lạm dụng phủ lên mạng lưới 81 hiệp định hiện hữu: PPT qua Công ước đa phương MLI mà Việt Nam đã ký, nghị định thư sửa đổi một số hiệp định hiện có, và ở tầng nội địa là Thông tư 95/2026/TT-BTC (thay Thông tư 205/2013 từ 01/7/2026) viết lại thủ tục áp dụng và kiểm tra người hưởng lợi thực sự.
2. Thay đổi về thuế suất thuế nhà thầu, cổ tức, lãi vay?
Các thuế suất trần trong hiệp định với cổ tức, lãi vay và bản quyền chỉ thay đổi khi có nghị định thư sửa đổi từng hiệp định cụ thể. Tác động lớn hơn đến từ điều kiện hưởng lợi: nếu bị từ chối qua PPT hoặc kiểm tra hưởng lợi thực sự, lãi vay và bản quyền quay về tỷ lệ trong nước theo Nghị định 320/2025/NĐ-CP (bản quyền 10%, lãi vay 5%), còn cổ tức tổ chức nước ngoài vốn không bị khấu trừ tại Việt Nam nên chênh lệch nằm ở phía cơ chế nước nhận.
3. Điều khoản chống lạm dụng hiệp định (PPT/LOB) được bổ sung ra sao?
PPT (kiểm tra mục đích chính) được đưa vào qua MLI: lợi ích hiệp định bị từ chối nếu đạt lợi ích đó là một trong các mục đích chính của việc sắp xếp. LOB (điều khoản giới hạn lợi ích dạng liệt kê điều kiện) ít xuất hiện trong hiệp định của Việt Nam; công cụ chủ đạo tại Việt Nam là PPT kết hợp kiểm tra người hưởng lợi thực sự theo Điều 10 Thông tư 95/2026/TT-BTC.
4. Nhà đầu tư nên rà soát cấu trúc đầu tư qua nước trung gian thế nào?
Rà soát năm điểm: hiệu lực và mức bao phủ MLI của hiệp định liên quan; chất lượng hưởng lợi thực sự của đơn vị trung gian (quyền quyết định thu nhập, tỷ lệ chuyển tiếp, nhân sự và rủi ro thật); hồ sơ mục đích kinh doanh ngoài thuế lập từ khi dựng cấu trúc; tính nhất quán giữa cấu trúc và dòng tiền thực tế; và phương án dự phòng khi bị từ chối lợi ích. Bản chất kinh tế phải có trước, không bổ sung hồi tố được.
Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng