FLAT LAW FIRM

Lao động

Nghị định 352/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Việc làm: điểm mới doanh nghiệp phải biết

Nghị định số 352/2025/NĐ-CP được ban hành để quy định chi tiết Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và thay thế Nghị định 23/2021/NĐ-CP. Tại thời điểm bài viết này (tháng 10/2026 theo lịch áp dụng của chiến dịch nội dung), nghị định chưa đến mốc hiệu lực, nên mọi nội dung dưới đây là khung đã ban hành sắp áp dụng, không phải thực tiễn đang vận hành. Điểm cần đọc đúng ngay từ đầu là phạm vi của nghị định: Nghị định 352/2025 tập trung vào dịch vụ việc làm, sàn giao dịch việc làm quốc gia và tiền ký quỹ của hoạt động dịch vụ việc làm, chứ không bao quát toàn bộ Luật Việc làm.

Phạm vi điều chỉnh: dịch vụ việc làm, không phải mọi nội dung của Luật Việc làm

Theo điều khoản phạm vi, Nghị định 352/2025 quy định chi tiết một số nội dung về dịch vụ việc làm tại khoản 5 Điều 27, khoản 5 Điều 28 Luật Việc làm 2025, cùng sàn giao dịch việc làm quốc gia và việc rút tiền ký quỹ của hoạt động dịch vụ việc làm. Đối tượng áp dụng gồm tổ chức dịch vụ việc làm công, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Giới hạn phạm vi này có hệ quả thực tế: các nội dung như bảo hiểm thất nghiệp, chính sách hỗ trợ tạo việc làm hay cho vay giải quyết việc làm nằm ở các chương khác của Luật Việc làm 2025 và văn bản hướng dẫn riêng, không suy ra được từ Nghị định 352/2025. Doanh nghiệp đọc nghị định này để trả lời câu hỏi về giấy phép dịch vụ việc làm là đúng địa chỉ; dùng nó để tra cứu mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là sai địa chỉ.

Thay thế Nghị định 23/2021 và cơ chế chuyển tiếp tại Điều 28

Điều 27 của Nghị định 352/2025 ấn định hiệu lực từ ngày 01/01/2026, đồng thời Nghị định 23/2021/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày đó. Điều 28 xử lý chuyển tiếp theo hướng không làm gián đoạn hoạt động đang diễn ra: doanh nghiệp đã được cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép trước ngày nghị định có hiệu lực được tiếp tục hoạt động đến khi giấy phép hết hạn, trừ trường hợp bị thu hồi; doanh nghiệp đã nộp đủ hồ sơ và đáp ứng điều kiện theo Nghị định 23/2021 nhưng chưa được giải quyết thì không phải làm lại các bước đã thực hiện và được cấp phép theo quy định mới; tổ chức dịch vụ việc làm công thành lập theo khung cũ được tiếp tục hoạt động, nhưng nếu chưa bảo đảm điều kiện tại khoản 1 Điều 4 của nghị định mới thì phải bổ sung đầy đủ trong thời hạn 24 tháng, nếu không phải chấm dứt hoạt động dịch vụ việc làm.

Điều kiện cấp giấy phép dịch vụ việc làm: nới thời hạn thuê trụ sở, giữ nguyên ký quỹ

Thay đổi dễ lượng hóa nhất nằm ở điều kiện cơ sở vật chất. Nghị định 23/2021 yêu cầu địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc thuê ổn định theo hợp đồng từ 03 năm trở lên; Nghị định 352/2025 hạ yêu cầu này xuống còn thời hạn thuê tối thiểu 02 năm (24 tháng) tính đến thời điểm nộp hồ sơ. Mức ký quỹ hoạt động dịch vụ việc làm được giữ nguyên ở 300 triệu đồng, cho thấy hướng nới lỏng của nghị định mới nằm ở thủ tục và vận hành chứ không hạ chuẩn bảo đảm tài chính. Doanh nghiệp đang chuẩn bị hồ sơ thành lập công ty dịch vụ việc làm vì vậy nên rà soát lại thời hạn còn lại của hợp đồng thuê trụ sở theo mốc 24 tháng mới, và chuẩn bị hồ sơ nhân sự, người đại diện theo các điều kiện còn lại của nghị định thay vì áp dụng nguyên bộ tiêu chí của năm 2021.

Rút tiền ký quỹ theo cơ chế một đầu mối và báo cáo qua sàn giao dịch quốc gia

Hai cải cách vận hành đáng chú ý nhất không nằm ở khâu cấp phép mà ở đời sống sau cấp phép. Về ký quỹ, nghị định mới bổ sung trường hợp được rút tiền khi giấy phép hết hạn và rút gọn quy trình theo hướng doanh nghiệp chỉ làm việc với một cơ quan có thẩm quyền, cơ quan này phải có văn bản đồng ý trong 05 ngày làm việc, giảm 02 ngày so với khung Nghị định 23/2021. Về báo cáo, chế độ báo cáo giấy định kỳ được thay bằng báo cáo qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia: tổ chức dịch vụ việc làm công và doanh nghiệp đều báo cáo 6 tháng và hằng năm trên hệ thống, với mốc chốt số liệu là ngày 14/6 cho báo cáo 6 tháng và ngày 14/12 cho báo cáo năm. Doanh nghiệp dịch vụ việc làm vì vậy cần chuẩn bị hạ tầng kết nối dữ liệu và quy trình tổng hợp số liệu nội bộ ngay trong giai đoạn chuyển tiếp, vì không kết nối được với sàn quốc gia có thể dẫn tới nguy cơ bị đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép.

Vị trí của Nghị định 352/2025 trong toàn cảnh Luật Việc làm 2025

Luật Việc làm 74/2025/QH15 có hiệu lực cùng ngày 01/01/2026 và thay thế Luật Việc làm 2013 trên diện rộng, từ chính sách việc làm đến bảo hiểm thất nghiệp. Riêng bảo hiểm thất nghiệp, điểm mới nằm ở chính luật: Điều 33 quy định mức đóng tối đa 1% tiền lương đối với người lao động và tối đa 1% quỹ tiền lương đối với người sử dụng lao động; Điều 38 siết điều kiện hưởng theo thời gian đóng, trong đó lao động có hợp đồng dưới 12 tháng phải đóng đủ 12 tháng trong vòng 36 tháng trước khi chấm dứt; Điều 39 giữ mức hưởng 60% bình quân tiền lương đóng của 6 tháng liền kề, thêm trần tối đa 5 lần mức lương tối thiểu vùng và thời gian hưởng tối đa 12 tháng. Nghị định 352/2025 không lặp lại các quy định này, nhưng tổ chức dịch vụ việc làm công, đối tượng chính của nghị định, chính là nơi tiếp nhận và giải quyết hồ sơ trợ cấp thất nghiệp, nên doanh nghiệp dịch vụ việc làm vẫn phải nắm cả hai tầng văn bản khi tư vấn cho người lao động.

Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm cần rà soát giấy phép và điều kiện theo khung mới có thể liên hệ FLAT Law Firm qua trang liên hệ để được hỗ trợ trước mốc 01/01/2026.

Câu hỏi thường gặp

Nghị định 352/2025/NĐ-CP quy định những nội dung gì?

Nghị định 352/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về dịch vụ việc làm tại khoản 5 Điều 27, khoản 5 Điều 28 Luật Việc làm 2025, gồm: tổ chức và hoạt động của tổ chức dịch vụ việc làm công; điều kiện, trình tự cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm đối với doanh nghiệp; sàn giao dịch việc làm quốc gia; và việc rút tiền ký quỹ của hoạt động dịch vụ việc làm. Nghị định không bao quát các nội dung khác của Luật Việc làm như bảo hiểm thất nghiệp.

Nghị định 352/2025 thay thế nghị định nào và có hiệu lực từ khi nào?

Theo Điều 27 Nghị định 352/2025/NĐ-CP, nghị định có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và Nghị định 23/2021/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày đó. Điều 28 quy định chuyển tiếp: giấy phép đã cấp theo khung cũ được dùng đến khi hết hạn; hồ sơ đã nộp đủ và đáp ứng điều kiện theo Nghị định 23/2021 thì không phải làm lại các bước đã thực hiện; tổ chức dịch vụ việc làm công có 24 tháng để bổ sung điều kiện còn thiếu.

Doanh nghiệp dịch vụ việc làm cần đáp ứng điều kiện gì theo Nghị định 352/2025?

Điều kiện cốt lõi gồm: có trụ sở chính, chi nhánh thuộc sở hữu hoặc thuê theo hợp đồng còn thời hạn tối thiểu 02 năm (24 tháng) tính đến thời điểm nộp hồ sơ, nới hơn mức thuê ổn định từ 03 năm của Nghị định 23/2021; đã ký quỹ hoạt động dịch vụ việc làm 300 triệu đồng, giữ nguyên như khung cũ; và đáp ứng các điều kiện về người đại diện, nhân sự và tổ chức hoạt động theo nghị định. Sau khi được cấp phép, doanh nghiệp phải duy trì kết nối và thực hiện báo cáo định kỳ qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia.

Nghị định 352/2025 có điểm mới nào về bảo hiểm thất nghiệp?

Nghị định 352/2025 không quy định chi tiết về bảo hiểm thất nghiệp; phạm vi của nghị định là dịch vụ việc làm, sàn giao dịch việc làm quốc gia và tiền ký quỹ. Điểm mới về bảo hiểm thất nghiệp nằm ở Luật Việc làm 74/2025/QH15, cùng hiệu lực 01/01/2026: mức đóng tối đa 1% đối với cả người lao động và người sử dụng lao động (Điều 33); điều kiện đóng đủ 12 tháng trong 24 tháng, riêng hợp đồng dưới 12 tháng xét trong 36 tháng (Điều 38); mức hưởng 60% bình quân tiền lương đóng 6 tháng liền kề, tối đa 5 lần mức lương tối thiểu vùng và hưởng tối đa 12 tháng (Điều 39).

Bài viết đã được FLAW AI Legal Council kiểm tra chất lượng